ANATTA (Vô ngã) [1]
Ajahn Brahmavamso
Namo Tassa Bhagavato Arahato Samma Sambuddhassa
Sabbe Sankhara Anicca - Sabbe Sankhara Dukkha - Sabbe Dharma
Anatta
"Tất cả các pháp do duyên mà có (hữu vi) thì đều vô thường.
Tất cả các pháp do duyên mà có đều là khổ. Tất cả các pháp (do duyên và không
do duyên – hữu vi và vô vi) đều là vô ngã". Đây là ba yếu tố cơ bản của mọi
hiện hữu. Để hiểu rõ những chân lý này, chúng ta thực hành Bát Thánh Đạo. Chúng
ta trang bị cho tâm mình sức mạnh nhờ việc từ bỏ năm chướng ngại/triền cái [2];
thì chúng ta có thể thực sự khám phá ra những sự thật này bằng cách trải nghiệm
các tầng thiền định sâu sắc. Thật ra, khi một trong ba đặc tính cơ bản này của
hiện hữu (ti-lakkhana) được nhìn thấy một cách đầy đủ thì người ta cũng sẽ thấy
hai đặc tính kia một cách đầy đủ. Như Đức Phật đã dạy: “Cái gì vô thường, chịu
sự thay đổi, là khổ, và bản chất của nó không thể được coi là ‘tôi’, ‘của tôi’
hay ‘tự ngã’. Bất cứ cái gì được coi là ngã sẽ gây ra đau khổ” (SN 22, 59)[3].
Thực ra, hạnh phúc vĩnh viễn của tự ngã là điều không thể có được.
Lời dạy của Đức Phật về vô ngã (anatta) rất thâm sâu và sâu
sắc bởi vì nó đi ngược lại với những giả định rất cơ bản của chúng ta về cuộc sống.
Đức Phật nói rằng vô minh (avijja) là nguyên nhân gốc rễ của mọi vấn đề, của mọi
tái sinh, nguyên nhân gốc rễ của phiền não. Ngài giải thích vô minh - avijja là
gì thông qua lời dạy về điên đảo mộng tưởng - vipallasas (sự biến dạng hay bóp
méo quan điểm, suy nghĩ và nhận thức). Cụ thể là, do điên đảo mộng tưởng – vipallasas,
mà những quan điểm, tư duy và nhận thức của chúng ta coi khổ là lạc, hạnh phúc;
chúng ta cho những gì vô thường là thường hằng; chúng ta coi cái bất tịnh,
không đẹp là tịnh, đẹp; và chúng ta coi vô ngã là atta, có cái tôi (AN 4, 49).
Đức Phật dạy rằng trong điên đảo mộng tưởng – vipallasas, chúng ta chưa bao giờ
thấy rằng tự ngã là vô ngã. Chúng ta luôn luôn cho rằng có một cái tôi trong
khi thật ra đó là vô ngã. Trong toàn bộ lời dạy của Đức Phật, chưa bao giờ có một
atta (ngã) được thừa nhận, dưới bất kỳ hình thức nào. Vì vậy, bài Pháp này sẽ
giải thích cách mà thực hành thiền định lên các tầng thiền cao kết hợp với việc
nghiên cứu cẩn thận sẽ giúp khám phá ra sự thật về vô ngã, để có thể loại bỏ ảo
tưởng về một “cái tôi”.
"Không có gì cả"
Vào cuối cuộc đời giảng dạy của mình, Thầy Ajahn Chah thường
đến thăm các nhà sư phương Tây tại chùa Wat Pa Nanachat mỗi tuần một lần để tắm
hơi cho khỏe. Ngài cũng sẽ thuyết pháp trước khi tắm hơi để mang đến cho chúng
tôi một số trí tuệ, sự khích lệ và nguồn cảm hứng trong việc tu tập. Lần đó,
tôi nhớ rằng sau khi Ngài thuyết pháp, tôi đặc biệt được truyền cảm hứng từ bài
nói chuyện của Thầy nên muốn hành thiền ngay thay vì đi giúp Thầy Ajahn Chah tắm
hơi. Vì thế tôi đi vòng ra phía sau thiền đường ở chùa Wat Pa Nanachat, nơi
không có ai và tôi ngồi thiền. Tôi không biết đó là nửa giờ hay một giờ. Tôi đã
có một buổi thiền rất tốt đẹp, một buổi thiền định rất sâu lắng. Sau đó, khi
tôi bước ra, tôi có rất nhiều sự an lạc và tâm trí rất trong sáng tỉnh táo.
Tất nhiên, điều đầu tiên tôi nghĩ đến sau buổi thiền là tự hỏi
liệu tôi kịp giúp gì cho thầy Ajahn Chah không. Thế là tôi đứng dậy và bắt đầu
đi về phía phòng tắm hơi. Đi được nửa đường thì tôi gặp Thầy Ajahn Chah đang đi
ngược lại cùng với hai hoặc ba cư sĩ người Thái. Thầy đã tắm xong và đang trên
đường trở về chùa Wat Pa Pong. Khi nhìn thấy tôi, rõ ràng Thầy đã nhận ra rằng
tôi đã thiền định rất sâu và tâm trí tôi rất trong sáng, vì vậy đó là một trong
những dịp mà Thầy đã cố gắng, vì lòng trắc ẩn, để khai sáng cho tôi. Thầy nhìn
thẳng vào mắt tôi, cách nhìn của Ajahn Chah, và nói:
P.1
“Brahmavamso, tam
mai?” có nghĩa là, "Brahmavamso, tại sao?" Tôi nói: "Dạ con
không biết". Thầy cười và nói: "Nếu có ai hỏi lại câu hỏi đó thì câu
trả lời đúng phải là 'Mai me arai' (không có gì cả)". Thầy hỏi tôi có hiểu
không, tôi nói: "Có", và Thầy ấy nói: "Không, thầy không hiểu".
Tôi sẽ luôn ghi nhớ câu trả lời của Thầy ấy. Cách Thầy ấy bước
đi giống như một lời dạy sâu sắc mà Thầy vừa chia sẻ với tôi. Điều mà Thầy thực
sự muốn nói ở đây qua lời dạy của mình, 'Mai me arai' là “không có gì cả”, chỉ
có tánh Không, vô ngã. Đây là một lời dạy mạnh mẽ bởi vì trong thế giới của
chúng ta, chúng ta luôn muốn có được một thứ gì đó. Chúng ta luôn muốn nắm lấy
một cái gì đó và nói "có cái gì đó". Nhưng thực ra thì chẳng có gì cả.
Cho dù người ta nhìn vào thân sắc (rupa), thọ (vedana), tưởng
(sanna), hành (sankhara, bao gồm ý chí), hay thức (vinnana)[4], đối với mỗi thứ
này - 'Mai me arai' - không có gì ở đó cả. Đây là lời dạy về vô ngã. Tuy nhiên,
mọi người rất khó chấp nhận lời dạy như vậy; rằng không có gì cả. Sở dĩ khó chấp
nhận là vì người ta hầu như luôn hỏi sai câu hỏi. Ai cũng biết rằng nếu bạn hỏi
sai thì bạn sẽ nhận được câu trả lời sai. Vì vậy, điều quan trọng trước hết là
phải đặt câu hỏi đúng. Nhìn qua các kinh, (các bài kinh được sưu tầm của Đức Phật),
người ta thấy nhiều có câu hỏi được đặt ra cho Đức Phật mà không dẫn đến bất kỳ
mục đích nào hoặc không có ích lợi gì. Đó là những suy nghĩ, câu hỏi hay thắc mắc
mà Đức Phật nói là hình thành một cách sai lầm, và quan trọng nhất là chúng
không đưa đến Giác ngộ.
Bạn xem cái tôi này là gì?
Một trong những câu hỏi được hình thành sai lầm đó là
"Tôi là ai?" Đây là câu hỏi được nhiều người trên thế giới đặt ra:
"Tôi là ai?" Tuy nhiên, khi suy ngẫm một chút thì bạn thấy câu hỏi
này có nghĩa rằng bạn là một ai đó. Nó đã hàm ý một câu trả lời. Nó chưa đủ mở.
Thay vào đó, người ta cần đặt lại câu hỏi, thay vì "Tôi là ai?" hoặc
thậm chí, "Tôi là gì?" thành câu "Tôi xem cái tôi này là
gì?" hoặc "Tôi cho rằng cái 'tôi' này là gì?" Những câu hỏi như
vậy đào rất sâu vào vô minh (avijja) của một người. Chỉ khi đó người ta mới có
thể bắt đầu thực sự nhìn nhận “cái tôi” của mình là gì.
Hãy xem xét thân người. Bạn có coi thân này là của bạn
không? Rất dễ nói: “Thân này là vô ngã” khi người ta còn trẻ, khỏe và mạnh mẽ.
Thử thách xuất hiện khi một người bị bệnh, đặc biệt khi bệnh đó rất nặng và kéo
dài, hoặc thậm chí có thể đe dọa đến tính mạng. Lúc đó người ta thực sự có thể
hiểu sâu hơn liệu họ có coi thân này là 'tôi' hay 'của tôi' không? Tại sao nỗi
sợ hãi này lại nảy sinh? Sự sợ hãi bao giờ cũng là do sự tham luyến, dính mắc.
Người ta sợ rằng điều ta yêu quý đang bị đe dọa hoặc bị lấy đi. Nếu thấy sợ chết
thì chắc chắn 99% rằng trong khoảnh khắc đó người ta đang thấy hoặc nghĩ rằng
thân này là 'tôi', hay là 'của tôi'.
Hãy quán chiếu thân này. Hãy quán sát cái chết của thân này,
quán sát những gì bên trong thân này và phân tách nó ra như trong Kinh Niệm Xứ
Satipatthana (MN 10, DN 22). Hãy thấy rằng
bất cứ phần nào trong thân này, nó chỉ là thịt, máu và xương. Chỉ là tứ đại (đất,
nước, lửa và gió), chỉ là nguyên tử, phân tử và vi chất, chỉ thế thôi. Liên tục
quán thân theo cách này, cuối cùng người ta sẽ phá vỡ ảo tưởng rằng thân này có
bản chất thật bên trong (như cái tôi hay linh hồn), là đẹp đẽ, thú vị và là 'của
riêng mình'.
P.2
4 Ảo tưởng về sự kiểm soát
Khi có cái tôi thì sẽ có những thứ thuộc về tôi. Khi có những
thứ thuộc về bản thân thì sẽ có sự kiểm soát, sẽ có công việc, sẽ có cái để
làm. Ảo tưởng về cái tôi này (cho rằng bản thân mình là một cái gì đó có thực
chất) là điều tạo ra sự tham luyến và dính mắc. Đây là những gì tạo ra ý chí.
Đó là lý do tại sao khi người ta coi thân này cái tôi, họ sẽ đi và mang nó đến
phòng tập thể dục, họ mang nó đến thẩm mỹ viện, họ mang nó đến tiệm làm tóc, họ
gội đầu, họ tỉa tót, họ cố gắng hết sức để làm cho nó trông đẹp. "Điều này
quan trọng, đây là tôi. Đây là hình ảnh bản thân tôi." Những người như vậy
nghĩ rằng việc họ trông như thế nào là rất quan trọng. Họ cho rằng điều đó tạo
ra hạnh phúc cho họ. Những người khác (khôn ngoan hơn) cho rằng những người này
thật ngốc. Những người khác nói sự thật. Vấn đề là nếu bạn coi thân này là bạn,
bạn sẽ muốn kiểm soát nó. Một số người cảm thấy khó chịu khi họ bắt đầu già đi,
xấu xí và hôi hám. Họ bắt đầu khó chịu khi bị bệnh, vì họ nhận ra mình không thể
kiểm soát được thân này.
Tôi từng thấy một số người sắp chết vẫn cố gắng kiểm soát cơ
thể của mình cho đến phút cuối cùng. Ở bên ai đó khi họ hấp hối và nhìn họ vật
lộn đến hơi thở cuối cùng và cố gắng kiểm soát mọi thứ, là một trong những điều
đáng buồn nhất trong cuộc đời. Đây là đau khổ thực sự. Rồi bạn thấy những người
khác có trí tuệ hơn, những người có thể buông bỏ và không vùng vẫy trước cái chết.
Nhận ra thân xác này không còn là của mình nữa, họ không quan tâm đến nó nữa,
cũng không cố gắng kiểm soát nó. 'Người điều khiển' đã biến mất. Khi sự kiểm
soát này không còn nữa thì trong tâm tự nhiên sẽ có rất nhiều sự bình yên, thoải
mái và tự do.
Thành tựu không phải của bạn
Thậm chí sâu hơn thân này là tâm. Trước hết, chúng ta hãy
xem xét các đối tượng của tâm. Mọi người thường tự đồng nhất mình với những suy
nghĩ của họ, hoặc những nhận thức hoặc đối tượng xuất hiện trong tâm trí họ. Ví
dụ, thật dễ dàng để coi những thành tựu của một người là “tôi”, hay là “của
tôi”. Nếu một người cho rằng bất kỳ thành tựu nào là 'tôi', hay là 'của tôi', kết
quả tất yếu của điều đó là niềm kiêu hãnh và sự dính mắc vào lời khen ngợi. Có
bao nhiêu đau khổ là kết quả của sự kiêu ngạo? Mỗi khi làm điều gì sai, người
ta sẽ cảm thấy có vấn đề gì đó ở đó. Rất thường khi vì kiêu ngạo, lúc làm điều
gì sai, người ta thậm chí có thể vi phạm giới luật [5] và nói dối, chỉ vì coi
những điều đã làm là 'tôi', hay là 'của tôi'. Đó là lý do tại sao trên đời, khi
ai đó mắc lỗi, họ thường nói: "Hôm nay tôi không cảm thấy thoải mái".
"Khi tôi làm điều gì đó đúng, đó mới là bản chất của tôi thực sự."
Người ta thường cho rằng việc nói trước đám đông là một
trong những điều đáng sợ nhất trong đời. Loại sợ hãi này luôn luôn là do một sự
dính mắc. Khi đó người ta cần đặt câu hỏi: “Sợ cái gì?” “Sợ mất cái gì?” Người
ta luôn sợ mất đi cái gọi là 'danh tiếng'. Nghĩa là những ảo tưởng về việc người
ta xem có cái tôi này. Thật ra tất cả những điều này chỉ là do duyên, điều kiện
mà thành. Mình nói hay là do mình đã luyện tập nhiều mà thôi. Nếu tôi nói dở,
điều đó cũng không liên quan gì đến cái tôi. Có lẽ là do dùng trà chưa đủ đậm.
Chuyện nói dở đó không liên quan gì tới tôi. Chẳng phải điều đó thật tuyệt vời
sao khi loại bỏ đi ý thức về cái tôi khỏi bất cứ việc gì người ta làm? Khi đó
không còn cảm giác tội lỗi, không còn cảm giác sợ hãi, hối hận. Người ta nghĩ lại
điều đó và nói: “Những gì tôi đã làm hôm nay thật là tồi tệ và kinh khủng”. Đó
chỉ là các điều kiện, các duyên, thế thôi.
Nếu người ta cho rằng thành công trong thiền định là do khả
năng của mình thì người đó hiểu sai luật nhân quả. Ví dụ, bất kỳ kỹ năng thiền
nào mà tôi có được đều không liên quan gì đến cái ngã, chỉ là do các nhân mà
thôi. Không phải là có khả năng hay yếu kém của một người ngăn cản sự thành
công trong thiền định. Đừng bao giờ nghĩ “Tôi có thể” hay “Tôi không thể”, điều
đó chỉ xuất phát từ ý thức về cái tôi. Hãy tạo ra các nhân. Một khi nhân đã có,
thì người ta sẽ có thể đắc các tầng thiền jhana[6], người ta sẽ có thể giác ngộ.
Khi một người thuần thục trong việc tạo ra các nhân cho thiền sâu, tạo ra các
nhân cho tuệ giác và tạo ra các nhân cho sự giải thoát, thì người ta sẽ hiểu
bhavana (sự phát triển tâm, tu tiến) thực sự có nghĩa là gì.
P.3
Suy nghĩ không phải của bạn
Khi những suy nghĩ xuất hiện trong tâm trí, điều đó vừa hữu
ích vừa hấp dẫn để người ta cho rằng, "Tại sao tôi lại nghĩ như vậy? Ý
nghĩ đó đến từ đâu?" Thông thường, người ta có thể truy nguyên những kiểu
suy nghĩ này đến từ những người thầy đã truyền cảm hứng cho bạn, bằng lời nói
hoặc trong sách. Tại sao bạn lại có suy nghĩ đó? Đó có thực sự là ý nghĩ của bạn,
hay đó là ý nghĩ của Ajahn Brahm, hay có thể là ý nghĩ của cha bạn, hay ý nghĩ
của mẹ bạn? Ý nghĩ đó đến từ đâu? Suy nghĩ không thuộc về bạn. Suy nghĩ đến tùy
theo các điều kiện/duyên của chúng, chúng được kích hoạt trong tâm trí vì những
nguyên nhân. Thật thú vị khi thấy rằng suy nghĩ là vô ngã, không phải “tôi” và
không phải “của tôi”.
Tại sao suy nghĩ lại ám ảnh tâm trí? Những suy nghĩ xuất hiện
và chúng ta nắm giữ chúng. Chúng ta khiến chúng ở lại vì ảo tưởng rằng chúng
quan trọng. Người ta đôi khi có những suy nghĩ hay ho như vậy, sau đó họ đến kể
với tôi và gọi đó là ' trí tuệ'. Chúng chỉ là suy nghĩ, thế thôi. Chỉ cần để yên
những suy nghĩ ở đó. Đừng coi chúng là 'của tôi'. Nếu một người coi các ý nghĩ
là 'của tôi', thì người đó sẽ dùng chúng đập vào đầu người khác và tranh cãi
xem ai đúng ai sai. Buông bỏ chúng sẽ an lạc hơn, vui vẻ hơn rất nhiều. Suy
nghĩ là một trong những trở ngại lớn nhất cho việc thiền sâu. Suy nghĩ như vậy
thường ngăn cản người ta nhìn thấy sự thật, không nhìn thấy bản chất thực sự của
sự vật.
Vì vậy, đừng coi trọng suy nghĩ. Đừng quan tâm đến nó. Thay
vào đó, hãy dành nhiều giá trị và sự quan tâm hơn cho sự tĩnh lặng. Đối với những
ai đã trải qua thời gian dài thiền định, lúc không một ý nghĩ nào xuất hiện
trong tâm trí bạn, điều đó chẳng phải là tốt đẹp, đẹp đẽ, thật đáng yêu sao,
khi có sự bình yên trong tâm và không có ý nghĩ nào khởi lên? Hãy nhớ điều đó,
hãy trân trọng ý nghĩ vô niệm đó. Thế thì chính ý nghĩ kết thúc ý nghĩ. Mọi
chân lý, mọi tuệ giác, mọi trí tuệ đều nảy sinh trong im lặng.
'Tâm tạo tác' không phải là cái tôi này
Nếu người ta nghĩ “Ta chịu trách nhiệm”, nếu ảo tưởng đó vẫn
còn, đó sẽ là một trở ngại lớn cho việc hành thiền của người ấy. Điều này sẽ tạo
ra sự điệu cử/bồn chồn, và sẽ có sự tham muốn cái này, cái kia và cái nọ. Người
ta sẽ không bao giờ có thể nhập vào các tầng thiền jhanas. Ta phải hiểu rằng cái
'tâm tạo tác' ấy không thể buông bỏ việc tạo tác, làm cái gì đó. Điều này giống
như việc bạn đang cố gắng ăn đầu của chính mình vậy. Đó là điều mọi người thường
cố gắng làm. Họ cố gắng làm điều không nên làm. Đó chỉ là làm nhiều hơn nữa! Nó
phải giống như một sự thay đổi, một sự thay đổi trong tâm trí. Ta cần có trí tuệ
để thấy rằng việc “làm/tạo tác” này chỉ là một tiến trình có điều kiện, do
duyên. Thế thì người ta có thể buông xả. Khi người ta buông xả thì toàn bộ quá
trình (thực hành) này diễn ra thật tốt đẹp, thật suôn sẻ, thật dễ dàng. Nếu may
mắn, người ta còn có thể đắc thiền jhana.
Trong trạng thái nhập thiền jhana, 'việc tạo tác' biến mất và dừng lại
trong một thời gian dài. Sau đó khi xuất thiền, người ta tự nhiên sẽ nghĩ: “Cái
này tốt, cái này đẹp, cái này tuyệt vời”. Rồi người ta lại bắt đầu nhìn thấy
các ảo tưởng này bằng 'tâm tạo tác'.
Tạo tác là đau khổ, là dukkha, dukkha là tạo tác, làm cái gì
đó. Khi làm gì đó thì giống như sóng trên mặt hồ. Sự tĩnh lặng bị mất. Khi sự tĩnh
lặng mất đi, giống như mặt hồ gợn sóng, nó làm biến dạng hình ảnh vầng trăng
trên bầu trời. Khi mặt hồ hoàn toàn tĩnh lặng và không có gì xảy ra, khi không
có ai làm bất cứ điều gì quấy rầy khoảnh khắc đó, thì sự phản chiếu rất trong
sáng, chân thực, và rất đẹp. Các tầng thiền jhana sẽ cho bạn thấy rõ ràng rằng
cái mà chúng ta gọi là ' tâm tạo tác', chỉ là một hiện tượng hoàn toàn có điều
kiện, do duyên. Tuệ ấy có tác dụng sâu sắc về sau. Đôi khi người ta đặt câu hỏi:
"Nếu ý chí không phải là chính bạn, nếu nó không liên quan gì đến bạn thì
sao phải bận tâm? Tại sao phải thức dậy lúc bốn giờ sáng và thiền định?"
Câu trả lời là "Bởi vì bạn không có lựa chọn nào khác".
'Tâm Nhận Biết' Không Phải là Cái Tôi
‘ Tâm nhận biết’ thậm chí còn sâu hơn 'Tâm tạo tác'. Cả hai
tâm này thực ra đi cùng nhau. Người ta có thể dừng 'tâm tạo tác' một lúc khi nhập
thiền, nhưng sau đó nó lại quay trở lại. Người ta thậm chí có thể ngăn chặn
'tâm tạo tác' trong nhiều kiếp bằng cách tái sinh về cõi thiền (Sắc Giới và Vô
Sắc Giới). Tuy nhiên,tâm ấy vẫn sẽ quay trở lại. Một khi đã có “ tâm nhận biết”,
nó sẽ phản ứng với những gì nó biết và sẽ tạo ra ‘tạo tác’.
“Tâm nhận biết” thường
được gọi là tâm thức hay citta (tâm), là cái biết. Cái biết đó thường được coi
là 'cái tôi' tối thượng. Mọi người thường có thể nhận thức hoặc mô phỏng trong
tâm trí của họ về việc nhận thức điều gì đó ở đây, nó chỉ có thể biết mà không
có cảm nhận (đi theo sau). Nó chỉ biết nóng và lạnh, vui và buồn, đẹp và xấu. Tuy
nhiên, đồng thời (bằng cách này hay cách khác), nó đứng lùi lại và không được
biết đến, và không bị ảnh hưởng bởi những gì đang thực sự xảy ra. Điều quan trọng
là phải hiểu rằng bản chất của ý thức là rất nhanh, nhanh đến nỗi nó tạo ra ảo
tưởng về sự liên tục. Do ảo tưởng này, người ta không hiểu rằng bất cứ điều gì
người ta nhìn bằng mắt hoặc cảm nhận nơi thân, tâm sẽ coi đó là đối tượng của tâm
và nó biết rằng nó đã nhìn thấy. Tâm biết rằng tâm cảm thấy. Chính việc biết rằng
nó đã nhìn thấy, biết rằng nó cảm thấy đã mang lại ảo tưởng về tính khách quan.
Nó thậm chí có thể biết rằng nó đã biết.
Khi các sách triết học nói về “sự tự suy ngẫm” hay “sự hiểu
biết về bản thân”, thực tế không chỉ là “tôi biết” mà còn là “tôi biết rằng tôi
biết”, hay “tôi biết rằng tôi biết rằng tôi biết”, được đưa ra như một bằng chứng
về sự tồn tại của một cái tôi. Tôi đã quán xét trải nghiệm đó để biết điều gì
thực sự đang diễn ra với việc “hiểu biết” này. Bằng cách sử dụng chiều sâu thiền
định của mình, với độ chính xác nhờ chánh niệm, tỉnh giác, tôi có thể quán thấy
cách tâm này thực sự hoạt động. Những gì người ta thực sự nhìn thấy là chuỗi
các sự kiện này, cái mà chúng ta gọi là 'biết'. Nó giống như một đám rước, cái
này sinh lên sau cái kia, điều này nối tiếp điều kia liên tiếp theo thời gian.
Khi tôi nhìn thấy một cái gì đó, thì một khoảnh khắc sau đó tôi biết rằng tôi
đã nhìn thấy, và một khoảnh khắc sau đó tôi biết rằng tôi thấy cái tâm đã thấy
sự kiện ấy. Không có chuyện “Tôi thấy cái tâm đang thấy cái trước đó” cùng lúc
trong hiện tại. Thật ra là "Tâm thấy cái tâm đã quán xét chuyện đã xảy ra”.
Khi thêm vào quan điểm về thời gian, người ta có thể thấy được trình tự nhân quả
các khoảnh khắc của ý thức. Không thấy được trình tự nhân quả đó thì dễ dàng
làm nảy sinh ảo tưởng về một “tâm nhận biết” liên tục (thật ra là từng tâm sanh
lên rồi diệt đi, tâm sau quán thấy tâm trước đã hoạt động thế nào). Ảo tưởng về
một 'tâm nhận biết' liên tục này thường xảy ra nhất là khi mọi người cho rằng
có 'cái tôi' ở đó.
Tuy nhiên, như đã nói trong kinh, người ta có thể thấy rằng
ngay cả sự hiểu biết cũng là hữu vi (do
duyên) (sankhata) (MN 64). Nó cũng sinh khởi do nhân, và rồi chấm dứt khi nhân
chấm dứt. Đây thực sự là nơi người ta bắt đầu nhìn thấy ảo tưởng về đối tượng.
Không thể tách rời 'tâm nhận biết' khỏi đối tượng được nhận biết. Như Đức Phật
đã nói nhiều lần, “Trong tất cả sáu giác quan, chẳng hạn như ý căn, khi ý căn
và đối tượng của tâm (cảnh) gặp nhau, nó sẽ phát sinh ý thức. Sự kết hợp của cả
ba được gọi là phassa (xúc)” (ví dụ MN, 28). Thức là hữu vi, nó phải có nhân
thì mới khởi phát, không phải lúc nào nó cũng ở đó. Trong quá trình nhập/trải
nghiệm jhana, người ta hoàn toàn tách biệt khỏi thế giới của năm giác quan. Tất
cả năm giác quan đều biến mất. Tất cả những gì còn lại là tâm, ý căn, kinh nghiệm
của tâm. Khi đó người ta sẽ biết rõ ràng tâm (citta) là gì.
Hiểu bản chất của tâm
Một khi người ta biết tâm là gì (hoạt động của tâm, giác
quan của tâm), thì người ta có thể thực sự nhận thấy khi không thiền, trong tâm
thế tục, bất cứ điều gì người ta nhìn thấy, sau tâm thấy thì đều được theo sau
bởi một loại tâm khác ngay lập tức. Các loại tâm khác nhau lần lượt sinh khởi
và diệt đi. Có thể đó là một tâm nhãn thức khác, rồi đến ý thức, hoặc có thể là
tâm thiệt thức (vị giác), rồi đến ý thức. Ý thức này theo sau ngay lập tức, rất
gần với năm loại ý thức kia, đến nỗi nó tạo cho năm giác quan một ảo tưởng về sự
giống nhau. Khi người ta nhìn thấy điều gì đó, khi người ta nghe điều gì đó hoặc
cảm nhận điều gì đó nơi thân, những trải nghiệm đó có điểm gì chung? Điều gì
mang lại cho nó ảo tưởng về sự giống nhau? Sau khi trải nghiệm thiền jhana người ta sẽ biết
rằng tâm thức này luôn theo sau ngũ thức; có thể nói là nắm tay năm giác quan
còn lại. Một khi người ta thấy được điều đó thì người ta có thể hiểu tại sao lại
có ảo tưởng về tính liên tục trong trải nghiệm của ý thức.
P.5
'Knowing' is like the particles of sand on a beach. From a
distance it looks like there is no gap, no space, between those grains of sand.
Then one goes closer and closer and closer and sees that there are just grains
of sand, and in between those grains there is nothing. Nothing runs through
those grains of sand. Like water in a stream. It looks like there is a
continuous flow. However, once one gets closer with a microscope, an electron
microscope, one can see that between the water molecules there is nothing, just
space. One can then see the granular nature of consciousness. One consciousness
arises and then another disappears. As it says in the Satipatthana Samyutta,
"cittas arise and pass away" (SN 47, 42).
“Cái biết” giống như những hạt cát trên bãi biển. Nhìn từ
xa, dường như không có kẽ hở, không có khoảng trống giữa những hạt cát đó. Sau
đó, người ta đến gần hơn, gần hơn và thấy rằng chỉ có những hạt cát, và ở giữa
những hạt đó có khoảng cách. Không có gì nối kết những hạt cát đó. Như nước
trong một dòng suối, có vẻ như có một dòng chảy liên tục. Tuy nhiên, khi nhìn gần
hơn bằng kính hiển vi, kính hiển vi điện tử, người ta có thể thấy rằng giữa các
phân tử nước có khoảng cách. Khi đó người ta có thể thấy được bản chất chi tiết
của ý thức. Một tâm thức xuất hiện và rồi một tâm thức khác biến mất. Như có
nói trong Satipatthana Tương Ưng, “tâm sinh và diệt” (SN 47, 42).
Một người nghĩ rằng có cái tôi và cái tôi này là tâm (citta),
“tâm nhận biết”, họ có thể buông bỏ, 0 dính mắc thân xác dục giới này và tái
sinh vào các cõi thiền. Nhưng họ vẫn còn phải tái sinh trong cõi luân hồi, thế
giới này. Họ lại phải chịu nhiều lần tái sinh nữa, nhiều đau khổ hơn. Điều này
là do họ chưa hoàn toàn buông bỏ bhava (hiện hữu). Người này vẫn chưa tận diệt
được bhava-tanha (ham muốn hiện hữu), kết quả của việc coi 'tâm nhận biết' là tự
ngã. Nó giống như ví dụ về con nòng nọc. Nòng nọc nở trong ao, luôn ở trong nước
nên không hiểu được đất trên cạn là gì. Tuy nhiên, khi con nòng nọc lớn lên
thành ếch và rời khỏi vùng nước đó lần đầu tiên, nó vẫn còn dính nước trên
lưng. Nó có dính nước nhưng ít nhất nó biết lên bờ là gì và lần đầu tiên nó có
ý tưởng về trên cạn là gì.
Hãy ra khỏi ao và lên bờ
Cách duy nhất để người ta có thể hiểu ý nghĩa của câu “bản
ngã không phải là ‘tâm tạo tác ’” là nhập vào thiền jhana. Điều này có nghĩa là
người ta đang bước ra khỏi cái ao tạo tác. Cách duy nhất để thực sự hiểu rằng 'tâm
nhận biết' không phải là cái tôi, là ra khỏi cái ao chứa năm giác quan và chỉ ở
lại với giác quan thứ sáu (ý thức). Chỉ còn lại ý thức, rồi sau một thời gian,
dù thích hay không, dù nghĩ nó đúng hay không, người ta sẽ thực sự thấy cái được
gọi là 'tâm nhận biết' sinh rồi diệt. Nó ở dạng hạt riêng rẽ, nó mang tính mảnh
vụn, 0 liền lạc.
Toàn bộ mục đích của những tầng thiền jhana này là thực hành
để học hỏi, từng chút một, để ngày càng buông bỏ nhiều tâm thức hơn. Nó giống
như cắt bỏ dần tâm thức vậy. Cho phép ý thức ngừng lại, bằng cách làm dịu nó, ổn
định nó và cho phép nó đi đến sự dừng lại. Sau đó, ý thức hoàn toàn ngừng hoạt
động trong một thời gian dài được gọi là nirodha-samapatti (đạt được sự dừng lại
– Diệt Thọ Tưởng Định, là định cao nhất, cao hơn Phi Tưởng Phi Phi Tưởng). Đây
là sự chấm dứt của tất cả tâm, những gì được cảm nhận và tất cả những gì được
nhận thức (asanna-vedayita-nirodha). Người ta nói rằng bất kỳ ai trải qua sự chứng
đạt này (Đắc Diệt Thọ Tưởng Định) sẽ là một vị A-la-hán hoặc một vị Bất Lai
ngay sau đó. Tại sao? Bởi vì họ đã nhìn thấy sự diệt của tâm, họ đã chạm vào nó
như một trải nghiệm.
Với trải nghiệm này (Diệt Thọ Tưởng Định) không còn bất kỳ
suy nghĩ, lý thuyết hay ý tưởng nào nữa. Đây là kinh nghiệm về không còn gì cả.
Tất cả những gì trước đây người ta cho là “tôi” chỉ là ảo tưởng (avijja). Vô
ngã - Anatta là gì? Người ta sẽ nhận ra rằng trong nhiều kiếp, người ta đã coi
tất cả những thứ này là bản ngã, và kết quả là có quá nhiều sinh tử và hậu quả
là đau khổ. Nguyên nhân là do có quá nhiều sự kiểm soát, hành động tạo tác và
tham ái (tanha). Trôi lăn trong luân hồi, trôi lăn hướng tới hạnh phúc, luồn
lách khỏi nỗi đau, luôn cố gắng làm chủ thế giới. Đó không phải là điều người
ta nên thấy. Nhờ trải nghiệm các tầng thiền jhana và sự vượt qua các duyên/điều
kiện, người ta đã vượt qua tất cả những điều đó (luân hồi). Đó không phải là điều
người ta có thể học mà biết được. Đó là điều người ta phải thực sự chứng nghiệm,
thực sự trải nghiệm. Đây là sự sáng chói trong giáo lý vô ngã của Đức Phật. Nó
đi thẳng vào trọng tâm của mọi thứ.
Họ nói rằng Pháp Dhamma là nguồn gốc. Người ta không đi ra
ngoài để nhận kết quả của nó, với sự phát triển tinh thần (papanca), người ta sẽ
không lạc lối. Người ta đang đi thẳng vào chính giữa, bản chất và cốt lõi của
atta, cái ngã. Từ thân vào tâm, từ tâm vào 'tâm tạo tác', từ 'tâm tạo tác' đến
'tâm nhận biết', khi đó người ta có thể thấy rằng ‘tâm nhận biết’ không phải là
cái tôi. Chỉ có nguyên nhân và duyên/điều kiện. Tất cả chỉ có vậy thôi, đó chỉ
là một quá trình. Khi đó người ta sẽ hiểu tại sao Đức Phật lại nói rằng Ngài
không dạy về sự hủy diệt. Sự hủy diệt có nghĩa là có một cái gì đó đã tồn tại rồi
mới bị phá hủy. Ngài cũng không dạy thuyết vĩnh cửu (rằng ở đó có thứ gì đó
không bao giờ bị phá hủy). Ngài dạy về Trung Đạo, tức là Lý Duyên Khởi.
Quá trình mà người ta coi là cái tôi trong suốt những kiếp sống
này chỉ là một quá trình không có cái tôi, nó trống rỗng. Quá trình ấy chỉ là
Nguyên nhân kết quả, nguyên nhân kết quả, nguyên nhân kết quả. “Khi có cái này
thì nó hiện hữu. Khi cái này chấm dứt thì nó đoạn diệt.” Đó là trọng tâm lời dạy
của Đức Phật. Mọi thứ đều tuân theo quy luật đó. Nếu người ta có thể thấy mọi
thứ đều tuân theo quy luật đó thì người ta đã nhìn thấy đầy đủ bản chất của vô
ngã. Luân hồi đã bị tiêu diệt gần hết; và người ta sẽ sớm chấm dứt mọi sinh,
lão, tử và đau khổ. Tuy nhiên, nếu chỉ còn lại một chút xíu mà ta chưa chứng đắc,
dù chỉ một chút xíu thôi - điều đó có thể khiến ta mắc kẹt trong Luân hồi trong
nhiều kiếp. Sabbe-dhamma-anatta'ti. Toàn bộ cái đống luân hồi khổ sở ấy!
P.6
________________________________________
[1] Bài giảng Pháp được
giảng bởi Ajahn Brahmavamso tại Tu viện Bodhinyana vào ngày 19 tháng 9 năm
2001, trong mùa An cư ba tháng hàng năm.
[2] Năm chướng ngại là: tham dục, sân hận, lười biếng, điệu
cử/bồn chồn và hối hận, và nghi ngờ. Trong kinh điển, những điều này được cho
là 'chất nuôi lớn' vô minh (AN 10, 61).
[3] Tham khảo kinh: AN = Anguttara Nikaya – Kinh Tăng Chi Bộ,
MN = Majjhima Nikaya – Kinh Trung Bộ, DN = Digha Nikaya – Kinh Trường Bộ, SN =
Samyutta Nikaya – Kinh Tương Ưng Bộ (tham khảo số sách rồi đến số kinh).
[4] Đây là năm uẩn, hay “các nhóm hiện hữu”, mà Đức Phật dạy;
chúng tạo nên toàn bộ sự tồn tại của con người.
[5] Trong Phật giáo có 5 giới luật cốt lõi, (các quy tắc đạo
đức) dành cho hành vi lành mạnh về thân và khẩu, được thực hiện; tránh xa: sát
sinh, trộm cắp, tà dâm (tức là ngoại tình), nói dối và các chất say như rượu,
những chất khiến mất sự chú ý. Đối với người xuất gia, những giới luật bổ sung
chính là: sống độc thân và không sử dụng tiền bạc.
[6] Jhanas – các tầng thiền, các trạng thái sâu sắc của 'sự
miệt mài' trong thiền định, nơi tâm trí trở nên hợp nhất với một đề mục trong
thời gian dài. Trong khi nhập thiền, năm chướng ngại được loại bỏ. Tâm an trú
bên trong chính nó và trong những trạng thái an lạc tinh tế này không hề có sự
tác động nào từ năm giác quan bên ngoài.
P.7
Comments
Post a Comment