Buddhism and Science
PHẬT GIÁO VÀ KHOA HỌC - Ajahn Brahmavamso
Dựa trên bài nói chuyện của Thầy Ajahn Brahmavamso với cư sĩ
tại Trung tâm Phật giáo Dharmaloka, Nollamara, Tây Úc, vào ngày 19 tháng 10 năm
2001
Cách đây không lâu, tôi đã được mời đến Đài quan sát Tây
Perth trong dịp lễ kỷ niệm Thế kỷ Liên bang ở Tây Úc (WA). Các nhóm thanh niên
của Tây Úc (W.A.) đứng ra tổ chức tất cả các sự kiện. Một trong những sự kiện họ
trình bày có tựa đề 'Vị trí của chúng ta trong không gian'. Ý tưởng là cố gắng
tìm hiểu xem tương lai sẽ hướng theo khoa học hay tôn giáo. Họ muốn xem xét hai
cách tiếp cận trái ngược nhau trong cuộc sống sẽ diễn ra như thế nào trong
tương lai. Vì vậy họ đã mời đại diện của một số tôn giáo đến. Tôi đại diện cho
những người theo đạo Phật, và một giáo viên từ một trường Thiên chúa giáo danh
tiếng đại diện cho những người theo đạo Thiên chúa. 1 nhà thiên văn học của
bang và một bạn trẻ đến từ Đại học WA sắp lấy bằng Tiến sĩ vật lý, cũng có mặt
trong hội thảo, đại diện cho Thiên văn học và Vật lý. Điều họ không biết rằng
trước khi là 1 Tỳ Kheo, tôi là một nhà vật lý lý thuyết. Vì vậy, tôi biết những
gì Phật tử biết và tôi cũng biết những gì họ biết. Có một chút không công bằng,
nhưng thực sự rất thú vị. Thật là vui khi nói chuyện với khán giả về Phật giáo,
tôn giáo và khoa học cũng như cách những điều này kết hợp với nhau. Có những mối
nguy hiểm trong tôn giáo và khoa học, nhưng ta có thể sử dụng chúng để giúp mọi
người tìm ra con đường sống một cách khôn ngoan, nhân ái và hiệu quả.
Nơi tận cùng của vũ trụ
Tôi bắt đầu bằng cách giải thích một số điều về Phật giáo mà
nhiều người chưa biết. Phật giáo rất rộng lớn nên vẫn còn nhiều điều mà người
phương Tây chưa biết về tôn giáo lớn này, nhất là từ Kinh điển Sutta, kinh điển
Phật Giáo xưa. Ví dụ, bạn có biết người đầu tiên bay vào vũ trụ là ai không? Chắc
chắn đó không phải là Yuri Gagarin. Đó là Tôn giả Rohitassa! (AN IV, 45)
Tôi nghĩ tất cả các bạn đều biết rằng nếu thực sự tập trung
thiền định thì bạn có thể đạt được năng lực thần thông bay. Một câu chuyện
trong kinh kể về một ẩn sĩ sống một mình trong rừng. Vị ấy đã phát triển khả
năng thiền định của mình, luyện thần thông bay và du hành trên không trung. Vị ẩn
sĩ đặc biệt này không chỉ là một người có thần thông bình thường, mà còn là một
trong những người có thần thông giỏi nhất về du hành trên không trung. Vị ấy đã
đưa khả năng bay lên một tầm cao mới và 'nâng tầm'! Bởi vì vị ấy có thể đi rất
nhanh, nhanh hơn tên bắn, vị ấy quyết định thử tìm xem nơi tận cùng của vũ trụ ở
đâu. Vị ấy đã bay rất nhiều, rất nhiều năm nhưng vẫn không thể tìm thấy điểm tận
cùng của vũ trụ. Vị ấy vượt ra ngoài hệ mặt trời đi vào không gian sâu thẳm bằng
sức mạnh của tâm trí. Người ta nghĩ đó chỉ là niềm tin, không có thật. Nhưng
sau này tôi sẽ đề cập đến một số sự kiện cho thấy điều đó có thật và chắc chắn
là có thể xảy ra. Vị ấy tiếp tục du hành trong nhiều chục năm và chết trên đường
đi, không bao giờ tìm thấy điểm tận cùng của vũ trụ.
Khi tái sinh vào một trong các cõi trời, Tôn giả Rohitassa đến
gặp Đức Phật và kể cho Ngài câu chuyện về kiếp trước của mình. Rằng khi còn là
một ẩn sĩ, vị ấy đã bay lên và bay đi "mãi mãi và mãi mãi", chết trên
cuộc hành trình mà không đến được điểm cuối của vũ trụ. Vị ấy không phải là nhà
du hành vũ trụ hay phi hành gia đầu tiên, vị ấy là ‘phi hành Sư’ đầu tiên! Đức
Phật khiển trách vị ấy, nói rằng đó không phải là con đường đi đến chỗ tận cùng
của vũ trụ. Thay vào đó, Đức Phật nhấn mạnh rằng sự khởi đầu và kết thúc của vũ
trụ chỉ có thể được tìm thấy bằng cách nghiên cứu bên trong nội tâm. Điều này
đã đưa ra câu trả lời cho một trong những câu hỏi mà người ta thường hỏi các Phật
tử: "Những người theo đạo Phật tin rằng ai đã tạo ra vũ trụ này?" Một
nhà khoa học sẽ đặt lại câu hỏi tương tự như "Nguồn gốc của vũ trụ này là
gì?" Câu trả lời là sự khởi đầu và kết thúc của vũ trụ nằm ngay trong thân
và tâm của bạn. Bạn là người tạo ra nó!
Nhớ về những kiếp trước
Phật giáo được thành lập dựa trên thiền định, và thiền định
có thể cho bạn biết rất nhiều điều, đặc biệt là những ký ức sâu sắc trong quá
khứ. Chư Tăng, Ni và những thiền sinh cư sỹ có thể đạt đến trạng thái thiền định
sâu đến mức họ không chỉ có thể bay lên mà còn có thể nhớ lại những kiếp trước!
Nhiều người thực sự có thể làm điều này. Khi bạn ra khỏi trạng thái thiền sâu,
bạn có năng lượng đáng kinh ngạc. Sau đó bạn sẽ không thể ngủ hay xem TV vì tâm
trí sẽ tràn ngập niềm vui và hạnh phúc. Hơn nữa, tâm trí được trao quyền đến mức
bạn có thể yêu cầu nó làm 1 số việc mà bình thường bạn không thể thực hiện được.
Nhờ thiền sâu, bạn có thể thực hiện những ý muốn ấy.
P.1
Tôi thực sự đã dạy môn thiền đặc biệt này cho những người
tham gia các khóa tu thiền, bởi vì trong các khóa tu thiền, có một số người đạt
được kết quả sâu sắc. Người ta đôi khi nhớ lại được những ký ức về thời họ còn
là những đứa trẻ và rồi nhớ đến thời kỳ ở trong bụng mẹ. Nếu may mắn, họ sẽ nhớ lại được những ký ức khi họ còn là một
người rất già, tức là những ký ức từ kiếp trước! Một trong những dấu chỉ quan
trọng của những ký ức tiền kiếp đó là chúng rất thực đối với người trải nghiệm chúng.
Cứ như thể bạn đang quay lại đó để trải nghiệm. Bất cứ ai đã từng có ký ức như
vậy đều không còn nghi ngờ gì về kiếp trước. Đó không phải là lý thuyết suông.
Những ký ức như vậy giống như nhớ lại sáng nay bạn đã ở đâu khi bạn ăn sáng. Bạn
không còn nghi ngờ gì nữa rằng đó chính là bạn sáng nay, đang ăn bữa sáng đó.
Không phải bạn tưởng tượng ra. Với sự rõ ràng tương tự, hoặc thậm chí còn rõ
ràng hơn, bạn biết rằng người rất già đó chính là bạn, chỉ có điều không phải
cách đây vài giờ mà là cách đây nhiều thập kỷ. Đó là một thời điểm khác, một cơ
thể khác và một cuộc sống khác. Bây giờ, nếu mọi người có thể làm điều đó trong
các khóa thiền chín ngày, hãy tưởng tượng bạn sẽ làm được những gì nếu bạn là một
vị Tăng hay Ni, người hành thiền không chỉ trong một ngày cuối tuần, hay trong
chín ngày, mà là chín năm, hai mươi chín, ba mươi chin, hay năm mươi chín năm.
Hãy tưởng tượng bạn có thể tạo ra bao nhiêu sức mạnh trong quá trình thiền định
đó. Bây giờ hãy tưởng tượng bạn có thể tạo ra bao nhiêu sức mạnh hơn nữa nếu bạn
là một vị Phật với Tâm giác ngộ.
Bây giờ bạn biết phải làm gì để tự mình khám phá xem bạn có
kiếp trước không. Hãy thiền định. Ý tôi muốn nói thiền không chỉ giúp bạn thoát
khỏi căng thẳng, trở nên bình tĩnh hơn, mà bạn hãy thực sự thiền định sâu sắc.
Thiền để đưa tâm trí của bạn nhập thiền Jhana.
Đó là những trạng thái miệt mài sâu sắc, khi ấy thân biến mất. Bạn không
cảm thấy. Bạn không thể nhìn thấy. Bạn không thể nghe được. Bạn hoàn toàn trú
trong tâm. Bạn không có suy nghĩ nhưng bạn hoàn toàn nhận thức được. Bạn đang rất
hạnh phúc. Phương pháp, hướng dẫn thực hành này được trình bày rất rõ ràng
trong cuốn sách nhỏ "Phương pháp Thiền cơ bản" của tôi, tất cả các bước
đều có ở đó. Hãy theo dõi chúng và đầu tư những nguồn lực cần thiết để thực hiện
cuộc thử nghiệm đó; không chỉ trong một khóa tu cuối tuần mà là nhiều khóa tu
cuối tuần, và đôi khi là nhiều năm thiền định. Nếu bạn muốn làm theo 'phương
pháp khoa học' đó, bạn phải nhập vào Định Jhana. Và sau khi xuất thiền, bạn tự
hỏi mình: "Ký ức gần đây nhất mà tôi có thể nhớ lại là gì?" Bạn có thể quay lại quá khứ trong tâm mình và
cuối cùng bạn sẽ nhớ lại. Bạn sẽ tự mình chứng kiến kinh nghiệm của những kiếp
trước. Sau đó bạn biết: Vâng, đó là sự thật! Bạn đã có kinh nghiệm cho chính
mình.
Đức Phật nói Ngài nhớ được nhiều đời quá khứ, nhiều kiếp quá
khứ, nhiều đại kiếp trái đất trong quá khứ. Ngài nói cụ thể rằng Ngài nhớ được
chín mươi mốt kiếp trái đất. Đó là chín mươi vụ nổ lớn (khi trái đất hình thành
thì có 1 vụ nổ Big Bang), thời gian trước đó và thời gian sau đó, những khoảng
thời gian khổng lồ. Đó là lý do tại sao Đức Phật nói không chỉ có một vũ trụ mà
có nhiều vũ trụ. Chúng ta không nói về vũ trụ song song cùng tồn tại như một số
nhà khoa học nói. Chúng ta đang nói về những vũ trụ tuần tự tiếp nối nhau(trái
đất này hoại rồi trái đất khác sinh ra), mà Đức Phật gọi là sanvattati
vivattati. Đây là tiếng Pali, có nghĩa là sự bộc lộ của vũ trụ và sự hình thành
của nó, sự khởi đầu và kết thúc của vũ trụ.
Trong Kinh thậm chí còn đưa ra thước đo cho (kiếp trái đất) sự
tồn tại của vũ trụ. Khi tôi còn là nhà vật lý lý thuyết, lĩnh vực chuyên môn của
tôi là rất nhỏ và rất lớn; vật lý hạt cơ bản và vật lý thiên văn. Đó là hai
khía cạnh mà tôi thích nhất, lớn và nhỏ. Vì vậy, tôi biết tuổi của vũ trụ nghĩa là gì
và 'vụ nổ lớn – Big Bang' nghĩa là gì. Tuổi của vũ trụ, lần mới nhất tôi xem trên
ghi nhận, là cách đây khoảng mười bảy nghìn triệu năm. Trong kinh Phật nói rằng
khoảng ba mươi bảy ngàn triệu năm là một kiếp trái đất. Khi tôi nói điều đó với
nhà thiên văn học của bang, anh ấy đã đồng ý, ước tính đó là con số gần đúng,
có thể chấp nhận được. Người triệu tập buổi hội thảo ‘Vị trí của chúng ta trong
không gian’ đã nói đùa về việc một trăm hoặc hai trăm năm trước, Cơ đốc giáo
nói rằng vũ trụ khoảng bảy nghìn năm tuổi. Ước tính đó chắc chắn không chính
xác, còn ước tính của Phật giáo là như tôi nêu trên!
Điều đáng chú ý là vũ trụ học đã có trong Phật giáo cách đây
25 thế kỷ không hề mâu thuẫn với vật lý hiện đại. Ngay cả những gì các nhà
thiên văn học gọi là các thiên hà, Đức Phật cũng gọi là hệ thống bánh xe. Nếu
ai trong số các bạn đã từng nhìn thấy thiên hà thì sẽ biết có hai loại thiên
hà. Đầu tiên là thiên hà xoắn ốc. Dải Ngân Hà là một trong số đó. Bạn đã nhìn
thấy một thiên hà xoắn ốc chưa? Nó giống như một bánh xe! Loại còn lại là cụm
hình cầu, trông giống như một bánh xe với một trục lớn ở giữa. 'Bánh xe' là một
cách mô tả các thiên hà rất chính xác. Điều này đã được giải thích (trong Kinh)
cách đây 25 thế kỷ, khi chưa có kính thiên văn! Họ không cần kính thiên văn, họ
có thể tự mình đến đó để thấy!
P.2
Có rất nhiều điều thú vị trong các kinh điển xưa, ngay cả đối
với những bạn thích tìm tòi những điều kỳ lạ. Đôi khi có người hỏi câu hỏi này:
“Người Phật tử có tin vào những sinh vật ngoài trái đất, vào người ngoài hành
tinh không?” Liệu người ngoài hành tinh đổ bộ vào đây có làm đảo lộn nền tảng của
Phật giáo không? Khi tôi đọc qua những bài kinh xưa, tôi thực sự thấy có một phần
nói về người ngoài hành tinh! Đó chỉ là một bài kinh rất nhỏ, nói rằng có những
hệ thống thế giới khác với những mặt trời khác, những hành tinh khác và những
sinh vật khác trên đó. Đó là trực tiếp từ Tăng Chi Bộ Kinh. (AN X, 29)
Con ma trong cỗ máy
Trong buổi hội thảo tại Đài thiên văn Tây Perth, một khán giả
giơ tay và hỏi: "Tại sao khi nhìn qua kính viễn vọng, tôi lại cảm thấy tôn
giáo của mình bị thách thức?" Cô ấy là một người Công giáo. Cô giải thích rằng cô cảm thấy sợ hãi khi
nhìn qua kính viễn vọng, vì những gì cô nhìn thấy không khớp với những gì cô đọc
trong kinh thánh. Là một Phật tử, bạn không cần phải sợ hãi. Tôi lấy câu hỏi đó
và quay lại với các nhà khoa học bằng cách hỏi: "Điều gì sẽ xảy ra nếu bạn
nhìn từ đầu kia của kính thiên văn để xem xét người đang nhìn từ đầu này? Tôi
nghĩ các bạn, các nhà khoa học sẽ sợ hãi. Bạn sẽ sợ nếu bạn quay kính viễn vọng
vào bên trong và nhìn vào chính bạn, rồi hỏi ai đang nhìn vào tất cả những thứ
này?” Một phần của vấn đề với khoa học là tất cả đều “ở ngoài kia”. Luôn luôn
là một người nhìn qua kính viễn vọng, nhìn vào bộ máy, nhưng không bao giờ nhìn
vào bên trong để xem ai thực sự đang nhìn vào tất cả những điều này. Ai đang
làm việc này?
Khi cuộc thảo luận bắt đầu trở nên nhàm chán, tôi quyết định
khuấy động Nhà thiên văn học bằng cách nói về cuộc sống. Bất kỳ nhà khoa học
nào ở đây đều biết rằng cơ học lượng tử, hay lý thuyết lượng tử, mô tả thế giới
bao gồm các hàm sóng. Hàm sóng nói lên xác suất của một sự kiện có thể quan sát
được. Tuy nhiên, khi nói về cuộc sống, khi một quan sát được thực hiện, hàm
sóng sẽ sụp đổ và hiện thực sẽ xuất hiện. Phải có sự quan sát sự sống ở đó thì
mới biết được. Lý thuyết lượng tử cần có người quan sát, một cuộc sống, để mang
lại ý nghĩa cho các phương trình. Sau cuộc cách mạng lượng tử trong vật lý, thì
lý thuyết về một vũ trụ khách quan 0 có sự sống trở nên vô nghĩa.
Một định luật vật lý cơ bản khác được gọi là Định luật thứ
hai của Nhiệt động lực học, phát biểu rằng entropy – trạng thái ngẫu nhiên, 0
chắc chắn, thì luôn tăng. Nói cách khác, cuộc sống sẽ càng trở nên rối loạn, hỗn
loạn hơn. Tuy nhiên, gần đây có người đã đoạt giải Nobel vì đã chứng minh được
một ngoại lệ, đó là khi có một hệ kín có sự sống thì entropy giảm! Cuộc sống tạo
ra trật tự , giảm sự hỗn loạn. Điều đó đã bác bỏ Định luật Nhiệt động lực học
thứ hai. Nhờ cuộc sống mà chúng ta có tổ chức thay vì vô trật tự. Vũ trụ là một
hệ thống khép kín và nó có sự sống trong đó. Đó là lý do tại sao nó có tổ chức.
Khi tôi còn học đại học, cuộc sống được các nhà vật lý gọi
là “bóng ma trong cỗ máy”. 'Con ma trong cỗ máy' là thứ đã làm rối tung mọi lý
thuyết khách quan. Con ma này khiến nhiều nhà khoa học sợ hãi!
Tin một cách mù quáng
Theo phương pháp này chúng ta coi khoa học trong các trường
đại học, trong phòng thí nghiệm và trong bệnh viện thường mắc phải căn bệnh kiểu
như chủ nghĩa giáo điều. Đó là gì? Chúng ta có một niềm tin và dù nó có đúng
hay không, hữu ích hay không, có mang lại
hạnh phúc, hòa hợp và hòa bình cho con người trên thế giới hay không, chúng ta
vẫn tuân theo chỉ vì đó là niềm tin của chúng ta. Nhưng việc tuân theo những niềm
tin một cách mù quáng, giáo điều sẽ chỉ dẫn đến bạo lực và đau khổ.
Một trong những điều tốt đẹp về Phật giáo đã khuyến khích
tôi trở thành một Phật tử khi tôi còn trẻ và
vẫn là một Phật tử cho đến bây giờ, đó là khuyến khích đặt câu hỏi. Bạn
không cần phải tin. Trong một câu chuyện trong kinh điển xưa, Đức Phật đã thuyết
giảng cho vị trưởng tăng của Ngài, Tôn giả Sariputta. Sau khi thuyết pháp, Đức
Phật hỏi vị trưởng tăng của Ngài: “Sariputta, ông có tin những điều ta vừa dạy
không?” Sariputta không chút do dự nói: “Không, con không tin, vì con chưa trải
nghiệm điều đó”. Đức Phật nói: "Lành Thay! Lành Thay!" Đó là thái độ
khuyến khích mọi đệ tử, dù là về mặt tôn giáo hay khoa học. Đừng tin ngay mà hãy giữ tâm cởi mở cho đến
khi họ có được trải nghiệm thực sự. Thái độ này đi ngược lại chủ nghĩa giáo điều,
nó đi ngược lại chủ nghĩa chính thống, là điều mà người ta không chỉ thấy trong
tôn giáo mà còn thấy trong khoa học.
Người xưa thường nói: “Sự xuất sắc của một nhà khoa học vĩ đại
được đo bằng khoảng thời gian họ cản trở sự tiến bộ trong lĩnh vực của mình”. Nhà
khoa học càng nổi tiếng, họ càng nổi bật, quan điểm của họ càng được coi là
chân lý. Sự nổi tiếng của họ không muốn những người khác thách thức họ; nó trì
hoãn sự xuất hiện của một 'sự thật' tốt hơn. Trong đạo Phật, khi bạn tìm thấy một
chân lý tốt hơn, hãy sử dụng nó ngay lập tức.
P.3
Vấn đề của chủ nghĩa giáo điều
Có một câu chuyện cổ, từ thời Đức Phật, kể về hai người bạn
đi tìm kho báu ở một thị trấn bị bỏ hoang. (DN 23.29) Đầu tiên họ tìm được một
ít cây gai và quyết định bó hai bó gai mang đi.
Họ sẽ có thể bán nó khi trở về nhà. Ngay sau khi họ bó xong những bó gai
dầu lớn này, họ tình cờ tìm thấy một số vải gai dầu. Một người đàn ông nói:
"Tôi cần cây gai dầu để làm gì? Vải thì tốt hơn". Người đàn ông kia
nói: "Không, cái này đã được buộc chặt rồi, tôi đã mang nó lâu rồi, tôi sẽ
giữ lại bó gai dầu của mình". Sau đó, họ tìm thấy một số cây lanh, một số
vải lanh, một số bông và một số vải bông, và mỗi lần như vậy người đàn ông mang
cây gai dầu lại nói: "Không, cây gai dầu đối với tôi là được", trong
khi người bạn của anh ta đổi lấy thứ có giá trị hơn. Sau đó họ thấy một số bạc
và một số vàng. Mỗi lần như vậy, một người luôn thay đổi thứ mình đang mang để
lấy thứ gì đó tốt hơn, còn người kia vẫn ngoan cố giữ lại bó gai dầu của mình.
Khi họ về đến nhà, người đàn ông mang vàng về rất được gia đình yêu mến. Về phần
người gánh cây gai dầu, gia đình anh ta không hề hài lòng chút nào! Tại sao
chúng ta không thay đổi quan điểm, ý tưởng của mình khi thấy điều gì đó tốt đẹp
hơn? Lý do chúng ta không làm điều đó là vì sự dính mắc. Đây là quan điểm của tôi. Chúng ta thoải mái
với những quan điểm cũ, mặc dù chúng ta biết chúng sai. Chúng ta thực sự không
muốn thay đổi. Đôi khi hình ảnh bản thân của chúng ta bị ràng buộc với những
quan điểm đó. Giống như một nhà khoa học bị ràng buộc với những thành tựu của
mình, bị ràng buộc với những gì anh ta đã từng khám phá, anh ta hoặc cô ta chống
lại những ý tưởng mới.
Đây là vấn đề được gọi là chủ nghĩa giáo điều. Đôi khi khi
tôi nói về năng lực bay trên không, người ta nói năng lực bay trên không thì
không có thật, đó chỉ là chuyện hoang đường. Hãy đợi cho đến khi bạn nhìn thấy
ai đó bay lên! Nếu bạn nhìn thấy ai đó bay lên, nếu ba nhà sư ở đây bay lên khoảng
hai hoặc ba feet, đó có phải là thách thức cho bạn không?
Xin lỗi, chúng tôi không thể làm điều đó ở nơi công cộng. Nó
trái với giới luật của chúng tôi. Một trong những lý do khiến chúng tôi không
thể biểu diễn năng lực thần thông trước mặt mọi người là vì nếu chúng tôi làm vậy,
có thể ai đó sẽ ghi hình lại và gửi đến một kênh truyền hình. Sau đó tất cả mọi
người, thậm chí từ nước ngoài, sẽ đến Perth. Không phải để nghe Pháp, không phải
để nghe về Phật giáo mà chỉ để xem các nhà sư diễn trò. Khi đó chúng tôi sẽ bị
áp lực phải trình diễn liên tục. Lúc đó sẽ giống như một rạp xiếc chứ không phải
một ngôi chùa. Vấn đề là các nhà sư không ở đây để biểu diễn.
Ngay cả khi một nhà sư thực hiện thần thông, nhiều người sẽ
nói: "Đây chỉ là một trò lừa. Nó được thực hiện bằng các hiệu ứng đặc biệt.
Họ không thực sự bay lên". Nếu bạn không muốn tin thì bạn sẽ không tin.
Đây chính là vấn đề của chủ nghĩa giáo điều. Những gì bạn không muốn thấy, bạn
sẽ không nhìn. Khi bạn không muốn tin vào điều đó, bạn sẽ phủ nhận. Đây là lý
do tại sao tôi nói rằng nhiều nhà khoa học đang phủ nhận bản chất của tâm.
Cậu bé không có não
Đây là một trường hợp nổi tiếng đặt ra thách thức cho khoa học
hiện đại. Đó là trường hợp của Giáo sư John Lorber và chàng sinh viên không có
não.[1] Giáo sư Lorber là một nhà thần kinh học tại Đại học Sheffield, ông giữ
chức chủ tịch nghiên cứu về nhi khoa. Ông ấy đã thực hiện rất nhiều nghiên cứu
về bệnh não úng thủy, hay còn gọi là não có nước. Bác sĩ của 1 sinh viên tại
trường đại học kia nhận thấy rằng chàng thanh niên có cái đầu lớn hơn bình thường
một chút nên đã giới thiệu anh ta đến Giáo sư Lorber, đơn giản là do ông thấy
quan tâm. Khi họ quét não cậu học sinh, họ thấy rằng hộp sọ của cậu chủ yếu chứa
dịch não tủy. Học sinh này có chỉ số IQ là 126, đã đạt được bằng danh dự hạng
nhất về toán học và hoàn toàn bình thường về mặt xã hội. Tuy nhiên, cậu bé hầu
như không có não. Đây không phải là bịa đặt; nghiên cứu đã tìm thấy những người
khác cũng không có bộ não. Trong Thế chiến thứ nhất, khi xảy ra những cuộc tàn
sát trong các chiến hào ở Châu Âu. Những người lính bị vỡ sọ theo đúng nghĩa
đen bởi đạn và mảnh pháo. Các bác sĩ phát hiện ra rằng một số phần đầu vỡ vụn của
những xác chết đó đều trống rỗng. Không có não. Bằng chứng của những bác sĩ đó
bị gạt sang một bên vì quá khó hiểu. Nhưng Giáo sư Lorber đã tiếp tục phát hiện
của mình và công bố chúng; làm ra 1 sự xáo trộn lớn trong cộng đồng khoa học.
Hàng tỷ đô la đang được đổ vào nghiên cứu về não bộ. Quan điểm hiện tại cho rằng
sự mất cân bằng trong não đang gây ra trầm cảm, thiếu thông minh hoặc các vấn đề
về cảm xúc. Nhưng đây lại là bằng chứng cho thấy bạn không cần nhiều não để có
một trí óc xuất sắc.
P.4
Có lần, một người bạn bác sĩ ở Sydney đã nói chuyện với tôi
về trường hợp này. Ông cho biết đã xem những bản chụp CT đó và xác nhận rằng
trường hợp này rất nổi tiếng trong cộng đồng y khoa. Ông giải thích rằng não cậu
bé đó chỉ có thứ được gọi là cuống não của loài bò sát. Thông thường, bất kỳ đứa
trẻ nào sinh ra chỉ có cuống não của loài bò sát, không có vỏ não và các bộ phận
khác, thường sẽ chết ngay lập tức hoặc trong vòng vài ngày sau khi sinh. Cuống
não của bò sát không có khả năng duy trì các chức năng cơ bản của cơ thể như thở,
tim hoặc gan. Nó không đủ sức duy trì các chức năng não cao hơn như nói, trí
thông minh, và chắc chắn là không đủ để trở thành học sinh giỏi môn toán. Vị
bác sĩ này nói, "Ajahn Brahm, bạn sẽ không tin được vấn đề mà lĩnh vực
khoa học của tôi đang gặp phải. Vấn đề này phá vỡ rất nhiều nghiên cứu trong
quá khứ. Nó thách thức nhiều công ty dược phẩm đang kiếm được hàng tỷ đô la lợi
nhuận". Bởi vì các nhà khoa học
giáo điều không thể hiểu làm thế nào một người hầu như không có não lại có thể
thông minh, họ chỉ chôn giấu những phát hiện này ở phía sau tủ hồ sơ, phân loại
nó là trường hợp dị thường. Nhưng sự thật sẽ không biến mất.
Tâm và bộ não
Ngay khi bạn bắt đầu đưa tâm, 'con ma trong cỗ máy' này vào
các phương trình, các nhà khoa học có xu hướng trở nên bối rối. Họ bám chặt vào
giáo điều và nói: “Không, điều đó không thể tồn tại”. Tôi thực sự đã yêu cầu
Nhà thiên văn học quốc gia làm việc để xử lý chủ nghĩa giáo điều như vậy trong
khoa học.
Theo Phật giáo thì có sáu giác quan. Không chỉ năm giác quan
như khoa học phân loại, cụ thể là thị giác, thính giác, khứu giác, vị giác và
xúc giác mà còn có tâm. Ngay từ đầu trong Phật giáo, tâm đã là giác quan thứ
sáu. Hai mươi lăm thế kỷ trước, giác quan thứ sáu đã được công nhận rộng rãi.
Vì vậy, đây không phải là thay đổi mọi thứ để theo kịp thời đại; điều này đã
như vậy ngay từ đầu. Giác quan thứ sáu là tâm, độc lập với năm giác quan còn lại.
Đặc biệt tâm độc lập với bộ não. Nếu bạn tình nguyện ghép não với tôi, bạn lấy
não của tôi và tôi lấy não của bạn, tôi vẫn sẽ là Ajahn Brahm và bạn vẫn là bạn.
Bạn muốn thử 0? Nếu có thể và điều đó đã thực sự xảy ra, bạn vẫn sẽ là chính
mình. Tâm và bộ não là hai thứ khác nhau. Tâm có thể sử dụng bộ não nhưng nó
không cần phải làm vậy.
Một số bạn có thể đã có những trải nghiệm ngoài cơ thể. Những
trải nghiệm này gần đây đã trở thành chủ đề của nghiên cứu khoa học chính thống.
Kinh nghiệm ngoài cơ thể bây giờ là một sự thật khoa học! Tôi thích khuấy động
mọi người bằng cách nói những điều như vậy. Gần đây tôi thấy Tiến sĩ Sam
Parnia, một nhà nghiên cứu từ Trường Y thuộc Đại học Southampton, đã viết một
bài báo nói rằng ý thức tồn tại sau cái chết.[2] Vị ấy nói rằng vị ấy không biết
nó xảy ra như thế nào hoặc tại sao, nhưng vị ấy nói nó đã xảy ra. Bằng chứng của
vị ấy được thu thập từ những người đã từng trải qua trải nghiệm thoát xác trong
bệnh viện của vị ấy. Bác sĩ Parnia đã điều
tra và phỏng vấn rất nhiều bệnh nhân. Thông tin mà họ cung cấp cho vị ấy, với
tư cách là một nhà khoa học có cái đầu lạnh, ông nói rằng có những người đó có
ý thức trong thời gian họ chết. Điều đặc biệt rất thuyết phục là họ thường có
thể mô tả cho bác sĩ các thủ tục y tế đã được thực hiện trong thời gian họ chết
lâm sàng. Họ có thể mô tả nó như thể họ
đang nhìn cơ thể mình từ vị trí phía trên cao nhìn xuống bàn. Nhưng điều đó xảy
ra như thế nào, tại sao thì Tiến sĩ Parnia không thể giải thích được. Và những phát hiện y học khác cũng ủng hộ những
điều trên. Cuối cùng, những phát hiện của họ đã lặp lại giống như công trình
nghiên cứu được thực hiện trước đó bởi Tiến sĩ Raymond A. Moody ở Hoa Kỳ.[3]
Bằng chứng đã chứng minh cho những bác sĩ thiết thực và cứng
rắn đó rằng trải nghiệm ngoài cơ thể là có xảy ra. Nhưng làm sao chúng xảy ra
được? Lời giải thích hợp lý là do tâm độc lập với thân. Tâm tồn tại mà không cần bộ não phải hoạt động.
Sự thật khoa học có, bằng chứng có, nhưng nhiều nhà khoa học không muốn thừa nhận
những sự thật đó. Họ thích nhắm mắt lại vì chủ nghĩa giáo điều.
Hãy đến và nhìn xem chính mình
Khi có một người được xác nhận là đã chết lâm sàng, khi sống
lại, họ có thể mô tả cho các bác sĩ những người xung quanh đã nói và làm gì
trong khoảng thời gian họ chết đó, điều đó chẳng phải khá thuyết phục sao? Khi
tôi đang nghiên cứu vật lý hạt cơ bản, có một lý thuyết yêu cầu chứng minh sự tồn
tại của cái gọi là hạt 'W'. Tại cơ quan máy gia tốc cyclotron ở Geneva, CERN đã
tài trợ cho một dự án nghiên cứu khổng lồ, đập các nguyên tử lại với nhau bằng
một máy gia tốc hạt khổng lồ, để cố gắng tìm ra một trong những hạt 'W' này.
P.5
Họ đã chi hàng trăm triệu bảng cho dự án này. Họ đã tìm thấy
một, chỉ một hạt 'W'. Tôi không nghĩ họ đã tìm thấy thêm một hạt nào khác kể từ
đó. Nhưng một khi họ tìm thấy một hạt 'W', các nhà nghiên cứu tham gia vào dự
án đó đã được trao giải Nobel vật lý. Họ đã chứng minh lý thuyết trên (tâm tồn
tại 0 phụ thuộc vào não) bằng cách chỉ tìm ra một hạt 'W'. Đó là mới là khoa học
đúng đắn. Chỉ cần một là đủ để chứng minh lý thuyết này.
Khi nói đến những điều không muốn tin, người ta chỉ gọi một
trải nghiệm, một trải nghiệm thực tế rõ ràng không thể phủ nhận được gọi là sự
bất thường. Sự bất thường là một từ trong khoa học để chỉ những bằng chứng gây
bối rối mà chúng ta có thể đặt sau tủ đựng hồ sơ và không nhìn vào nữa vì nó đe
dọa thế giới quan của chúng ta. Nó làm suy yếu những gì chúng ta muốn tin. Nó
đang đe dọa giáo điều của chúng ta. Tuy nhiên, một phần thiết yếu của phương
pháp khoa học là phải loại bỏ các lý thuyết để ủng hộ bằng chứng, tôn trọng sự
thật. Vấn đề là đã có bằng chứng về việc tâm độc lập với bộ não. Nhưng một khi
chúng ta thừa nhận bằng chứng đó, và đi theo phương pháp khoa học thì bao nhiêu
lý thuyết ấp ủ mà chúng ta gọi là “con bò thiêng” sẽ phải bỏ đi.
Khi chúng ta thấy điều gì đó thách thức lý thuyết, trong
khoa học hay tôn giáo, chúng ta không nên bỏ qua bằng chứng. Chúng ta phải thay
đổi lý thuyết để phù hợp với thực tế. Đó là điều chúng tôi làm trong đạo Phật.
Tất cả Giáo pháp của Đức Phật, mọi điều Ngài dạy, nếu nó không phù hợp với kinh
nghiệm thì chúng ta không nên chấp nhận. Chúng ta không nên chấp nhận lời dạy của
Đức Phật trái ngược với kinh nghiệm. Điều đó được nêu rõ trong kinh Kalama. (AN
III, 65) Đức Phật dạy đừng tin vì nó được viết trong sách vở, hay thậm chí là
do Phật nói ra. Đừng chỉ tin vì đó là truyền thống, hay vì nó nghe có vẻ đúng,
hay vì nó khiến bạn thấy thoải mái. Hãy chắc chắn rằng nó phù hợp với trải nghiệm
của bạn. Và vấn đề sự tồn tại của tâm độc lập với bộ não là phù hợp với trải
nghiệm. Sự thật là như vậy.
Tuy nhiên, đôi khi chúng ta không thể tin tưởng vào các
chuyên gia. Bạn không thể tin tưởng Ajahn Brahm. Bạn không thể tin tưởng vào
các tạp chí khoa học. Vì con người thường thiên vị nên Phật giáo cho bạn một
phương pháp khoa học để thực hành. Đạo Phật dạy hãy thực nghiệm và tự mình tìm
hiểu xem điều Đức Phật nói có đúng hay không. Kiểm tra kinh nghiệm của bạn. Ví
dụ, phát triển phương pháp kiểm tra sự thật về tiền kiếp, sự tái sinh và luân hồi.
Đừng chỉ tin bằng niềm tin mà hãy tự mình tìm hiểu. Đức Phật đã đưa ra một thử
nghiệm khoa học mà bạn có thể làm theo.
Luật nghiệp báo (nhân
quả) là một phần của Phật giáo, khi bạn chưa hiểu/trải nghiệm thì đó chỉ là một
lý thuyết. Bạn có tin rằng có một Đấng nào đó 'ở trên cao' quyết định khi nào bạn
hạnh phúc hay bất hạnh? Hay mọi chuyện xảy đến với bạn chỉ là ngẫu nhiên? Hạnh
phúc và đau khổ của bạn trong cuộc sống, niềm vui, nỗi đau và sự thất vọng của
bạn, liệu chúng có phải là nhân quả không? Bạn có phải chịu trách nhiệm cho những
gì bạn nhận được hay đó là lỗi của người khác? Liệu chúng ta giàu hay nghèo chỉ
là ngẫu nhiên? Có phải là do xui xẻo mà chúng ta bị bệnh và chết khi còn trẻ? Tại
sao? Bạn có thể tìm thấy câu trả lời thực sự cho chính mình. Bạn có thể trải
nghiệm luật nghiệp báo (nhân quả) thông qua thiền định sâu sắc. Khi Đức Phật ngồi
dưới gốc cây Bồ đề ở Bồ Đề Đạo Tràng, hai kiến thức mà Ngài đã nhận ra ngay trước
khi giác ngộ là kiến thức từ kinh nghiệm về Sự Thât của tái sinh và tuệ từ việc
trải nghiệm Luật Nghiệp báo. Đây không phải là lý thuyết, không phải nhờ suy
nghĩ nhiều hơn mà biết, không phải là điều gì đó có được nhờ những cuộc thảo luận
quanh bàn cà phê, đây là sự chứng ngộ từ kinh nghiệm sâu sắc về bản chất của
tâm. Bạn cũng có thể có trải nghiệm tương tự.
Tất cả các tôn giáo trên thế giới ngoại trừ Phật giáo đều tin
có linh hồn. Họ khẳng định một “cái tôi” thực sự, một “bản chất của vạn vật”, một
“con người”, một “tôi”. Phật giáo nói không có tự ngã! Ai đúng? 'Con ma trong cỗ
máy' này là gì? Là một linh hồn, một thực thể hay một quá trình? Đó là gì? Khi
Đức Phật nói rằng không có ai ở đây, Ngài không bao giờ có ý nói điều đó để chúng
ta tin tưởng mà Ngài muốn chúng ta phải trải nghiệm. Đức Phật đã nói, như một sự
thật khoa học, rằng không có cái “ngã”. Nhưng giống như bất kỳ sự kiện khoa học
nào, nó phải được mỗi người chúng ta tự mình trải nghiệm, paccattam veditabbo
viññūhi (tự chứng đắc, tự mình biết rõ). Nhiều người trong số các bạn tụng những
từ Pali đó hàng ngày. Đó là Phật giáo có khoa học căn bản. Bạn phải có tâm cởi
mở. Bạn tin hay không tin rằng có 'cái tôi' ; cả hai niềm tin đều là chủ nghĩa
giáo điều.
Hãy có tâm cởi mở (để tìm hiểu) cho đến khi bạn chứng nghiệm
được điều ấy. Thí nghiệm là thực hành sila, samadhi và pañña, (Giới, Định, Tuệ).
Việc thực nghiệm chính là thực hành thiền Phật giáo (Chỉ và Quán). Hãy thực hiện
các trình tự thử nghiệm tương tự như Đức Phật đã làm dưới gốc cây Bồ đề (tức ngồi
thiền). Thực hành lặp đi lặp lại và xem bạn có nhận được kết quả tương tự
không. Kết quả được gọi là sự giác ngộ
P.6
Nam và nữ đã lặp lại việc thí nghiệm đó (thực hành thiền)
nhiều lần trong nhiều thế kỷ. Chính trong phòng thí nghiệm thực hành Phật giáo
mà các bậc giác ngộ, các vị A-la-hán xuất hiện.
Các vị A-la-hán là những người đã thực hiện thí nghiệm (ngồi thiền) và
tìm ra kết quả. Đó là lý do tại sao Phật giáo luôn luôn là con đường khoa học.
Đó là con đường tự mình tìm ra chân lý của sự Giác ngộ.
Phật giáo cũng là con đường khoa học để khám phá sự thật về
hạnh phúc, điều mà hầu hết mọi người đều quan tâm. Hạnh phúc là gì? Một số học
sinh từ trường Hồi giáo trong vùng đã đến thăm tu viện của chúng tôi cách đây
không lâu. Tôi có 1 trò chơi nhỏ cho các em, đó cũng là một cách soi sáng để chứng
minh sự tồn tại của tâm. Tôi đang cố gắng giải về thích Phật giáo nên tôi hỏi
các em:
"Các em có hạnh phúc không? Hãy giơ tay lên nếu các em
đang hạnh phúc".
Lúc đầu không có phản hồi. Sau đó, một em giơ tay.
"Ồ! Các em đều khốn khổ à?" Tôi nói "Chỉ một
người hạnh phúc thôi à? Các em có hạnh phúc không?"
Nhiều học sinh giơ tay hơn.
"Được rồi, tất cả những người giơ tay nói rằng họ hạnh
phúc, bây giờ các em có thể dùng ngón trỏ để chỉ ra niềm hạnh phúc đó không? Em
có thể cho tọa độ của nó trong không gian không?" Các em đã không thể chỉ
ra được.
Thật khó để chỉ ra hạnh phúc phải không? Các em đã bao giờ bị
trầm cảm chưa? Lần tới khi em chán nản, hãy cố gắng dùng ngón trỏ để chỉ ra cảm
giác đó nằm ở đâu! Em sẽ thấy rằng em không thể xác định được nỗi buồn hay hạnh
phúc trong không gian. Em không thể cho nó tọa độ, bởi vì những thứ này nằm trong
tâm, không phải trong thân, không nằm trong không gian. Tâm không ở trong không
gian. Đó là lý do tại sao sau khi một người chết đi, nếu trở thành ma họ có thể
xuất hiện khắp thế giới ngay lập tức. Đôi khi mọi người hỏi tôi: "Làm sao
điều đó có thể xảy ra được?" Làm sao một người chết, chẳng hạn như ở New
York, lại có thể xuất hiện ngay ở Perth? Đó là vì tâm không ở trong không gian,
đó là lý do. Đó là lý do tại sao bạn không thể chỉ ra hạnh phúc, không thể chỉ
ra sự chán nản, nhưng chúng là có thật. Bạn có đang tưởng tượng ra hạnh phúc
không? Bạn có tưởng tượng được sự trầm cảm không? Đó là sự thật. Tất cả các bạn
đều biết điều đó. Nhưng bạn không thể định vị nó trong không gian ba chiều. Hạnh
phúc, phiền muộn và nhiều điều có thật khác, tất cả đều sống trong không gian
tâm trí.
Tâm không ở trong não, cũng không ở trong tim. Chúng tôi đã
thấy rằng người ta có thể không có não nhưng vẫn có tâm trí. Bạn có thể lấy
trái tim của mình ra và thay bằng một trái tim nhân tạo hoặc được ghép tim, và
bạn vẫn là bạn. Sự hiểu biết về tâm này là lý do tại sao Phật tử không hề phản
đối việc nhân bản. Bạn muốn nhân bản tôi, hãy làm đi! Nhưng đừng nghĩ rằng nếu
bạn nhân bản Ajahn Brahm thì bạn sẽ có thể có một Ajahn Brahm đến Singapore tối
nay, một Ajahn Brahm khác ở lại Perth để dự buổi nói chuyện tối thứ sáu tới, và
một Ajahn Brahm khác có thể ở lại tu viện Bodhinyana, một Ajahn Brahm khác có
thể đến Sydney và một Ajahn Brahm có thể đến Melbourne. Nếu bạn nhân bản tôi,
người giống tôi sẽ hoàn toàn khác về tính cách, kiến thức, khuynh hướng và mọi
thứ khác. Người ta nhân bản xe Toyota theo cách tương tự. Chúng trông giống hệt
nhau nhưng hiệu suất thực sự phụ thuộc vào người lái bên trong xe. Nhân bản chỉ
là vậy thôi, chỉ là sao chép một cơ thể. Chắc chắn nó trông giống nhau, nhưng
cơ thể có phải là tất cả những gì con người có không? Bạn đã từng thấy cặp song
sinh giống hệt nhau chưa? Cặp song sinh giống hệt nhau có tính cách giống nhau
không? Họ có trí thông minh giống nhau không? Họ có cùng khuynh hướng không? Họ
thậm chí có thích cùng một món ăn không? Câu trả lời thường là không.
Tại sao mọi người thấy có vấn đề với việc nhân bản? Sao chép
nhiều như bạn muốn. Bạn chỉ đang tạo ra nhiều cơ thể hơn để các luồng tâm thức
đi vào. Những dòng tâm thức đó đến từ những kiếp trước. Vấn đề là gì? Bạn sẽ
không bao giờ có thể dự đoán được kết quả. Giả sử bạn lấy bộ não của Einstein,
trích xuất một số DNA của ông ấy và nhân bản một Einstein mới. Họ có thể trông
giống nhau, nhưng tôi bảo đảm rằng người nhân bản này sẽ không thông minh bằng
một nửa bản gốc.
Nếu mọi người muốn tiến hành nghiên cứu tế bào gốc để giúp
ích cho nhân loại, thì tại sao lại không? Trong nghiên cứu tế bào gốc không có
sự tham gia của “bản thể”. “Chúng sinh” vẫn chưa xuất hiện. Trong Phật giáo, người ta hiểu rằng “chúng
sinh” đi vào bụng mẹ bất cứ lúc nào từ khi thụ thai cho đến khi sinh ra. Đôi
khi nó thậm chí không đi vào tử cung và thai nhi chết lưu. Những phản đối đối với
nghiên cứu tế bào gốc là giáo điều, phản khoa học và thiếu nhân ái. Theo tôi
nghĩ thì họ thật ngu ngốc. Tôi nghĩ đôi khi tôi sẽ bứt tóc nếu không đi tu làm
Tỳ Kheo.
P.7
Nếu bạn muốn xem xét bằng chứng khoa học về sự tái sinh, hãy
tìm hiểu Giáo sư Ian Stevenson. Ông dành cả cuộc đời mình để nghiên cứu về tái
sinh trên cơ sở khoa học vững chắc tại Đại học Virginia.[4] Chester Carlson,
người phát minh ra phương pháp xerography (phương pháp in chụp tĩnh điện), (được
vợ ông khuyến khích) đã đề nghị tài trợ một suất ưu đãi tại trường Đại học để
giúp Giáo sư Stevenson có thể cống hiến toàn bộ thời gian cho nghiên cứu đó. Nếu không phải vì người ta không muốn tin vào
sự tái sinh thì Tiến sĩ Ian Stevenson bây giờ đã là một nhà khoa học nổi tiếng
thế giới. Vị ấy thậm chí còn dành vài năm làm nghiên cứu sinh của trường Cao đẳng
Magdalene ở Oxford, vì vậy bạn có thể thấy rằng đây không chỉ là một giáo sư kỳ
lạ vớ vẩn; mà ông ấy có tất cả bằng cấp của một học giả phương Tây đáng kính.
Tiến sĩ Stevenson nghiên cứu hơn 3000 trường hợp trong hồ sơ
của mình. Một ví dụ thú vị là trường hợp rất rõ ràng về một người đàn ông nhớ
được nhiều chi tiết từ kiếp trước của mình mà không có cách nào lấy được thông
tin đó từ bất kỳ nguồn nào khác (tức là chỉ có chính đương sự mới biết). Người
đó chết chỉ vài tuần trước khi được tái sinh! Điều này đặt ra câu hỏi, trong suốt
những tháng thai nhi còn trong bụng mẹ, đó là ai? Theo quan điểm của Phật giáo,
người mẹ giữ bào thai đó theo dòng tâm thức của chính mình. Nhưng khi một luồng
tâm thức khác đi vào thì bào thai lại trở thành một con người mới. Đó là một
trường hợp dòng tâm thức đi vào bụng mẹ khi bào thai gần như đã phát triển đầy
đủ. Điều đó có thể xảy ra. Điều đó đã được Phật giáo hiểu cách đây hai mươi lăm
thế kỷ. Nếu dòng ý thức không đi vào tử cung người mẹ thì thai sẽ chết lưu. Có
rất nhiều bằng chứng ủng hộ điều đó.
Khoa học và Phật giáo
Khi một Phật tử nhìn qua kính viễn vọng, họ không sợ hãi trước
những gì họ có thể nhìn thấy. Họ không sợ khoa học. Khoa học là một phần thiết
yếu của Phật giáo. Nếu khoa học có thể bác bỏ tái sinh (với bằng chứng cụ thể)
thì người Phật tử nên từ bỏ ý tưởng tái sinh. Nếu khoa học bác bỏ vô ngã và chứng
minh được là có ngã, thì tất cả người Phật tử nên từ bỏ vô ngã. Nếu khoa học chứng
minh được rằng không có cái gọi là nghiệp mà thay vào đó có một vị Thần to lớn ở
trên trời, thì tất cả những người Phật tử nên tin vào vị Thần ấy. Đó là, nếu
khoa học có thể chứng minh được. Phật giáo không có con bò thiêng (vùng cấm 0
thể động chạm, chỉ trích). Tuy nhiên, tôi khuyến khích bạn tự mình thực hiện những
thực nghiệm đó. Tôi cá là bạn sẽ phát hiện ra rằng không có ai 'trong đó' cả. Bạn
sẽ thấy có nghiệp. Bạn sẽ phát hiện ra rằng bạn đã từng ở đây trước đây và đây
không phải là cuộc sống đầu tiên của bạn. Nếu bạn không cư xử đúng mực ở đời
này thì bạn sẽ còn tái sinh một đời khác nữa. Bạn có nghĩ rằng bạn đã xong việc
với việc đóng bỉm, với việc đi học? Bạn
có thực sự muốn trải qua tất cả những điều đó một lần nữa không? Nếu không muốn
thì hãy cẩn thận.
Vì vậy, đây là suy nghĩ của tôi về khoa học và Phật giáo.
Tôi nghĩ rằng Phật giáo là khoa học thuần túy, một khoa học không dừng lại ở
“ngoài kia” mà còn nghiên cứu về tâm thức bên trong, về“chúng sinh”, về “con ma trong cỗ máy” (tức
là tâm). Và nó không bỏ qua bất kỳ sự bất
thường nào. Phật giáo lấy mọi thứ làm dữ liệu, đặc biệt là kinh nghiệm và xem
xét nó một cách khoa học. Nó cực kỳ thành công.
Một trong những lý do khiến mọi người tôn vinh khoa học là
vì tất cả những thành tựu của nó về công nghệ. Một trong những lý do khiến Phật
giáo phát triển ngày nay là nhờ tất cả những thành tựu của nó trong lĩnh vực
“công nghệ tâm trí”. Phật giáo giải quyết vấn đề, giải thích những khó khăn về
tinh thần. Phật giáo thành công trong việc giải quyết những vấn đề nội tâm đó bởi
vì nó có tất cả những chiến lược này, những 'gizmos' (công cụ hiệu quả) cổ xưa
này, thực sự có tác dụng. Nếu bạn thử một số công cụ Phật giáo này, bạn sẽ tự
mình phát hiện ra rằng chúng tạo ra hàng hóa, chúng giải quyết những đau khổ và
đau đớn bên trong của bạn. Đó là lý do tại sao Phật giáo ngày càng phát triển.
Tôi nghĩ rằng Phật giáo sẽ thay thế khoa học! Cảm ơn rất nhiều
P.8
Comments
Post a Comment