Buddhism: The Only Real Science  - Phật giáo: Khoa học đích thực duy nhất

Ajahn Brahmavamso - ngày 8 tháng 2 năm 2004

Tôi từng là một nhà khoa học. Tôi học Vật lý lý thuyết tại Đại học Cambridge, ở cùng tòa nhà với Giáo sư nổi tiếng sau này là Stephen Hawking. Tôi trở nên vỡ mộng với ngành khoa học này vì là người trong cuộc, tôi thấy một số nhà khoa học có thể giáo điều đến mức nào. Giáo điều, theo từ điển, là một tuyên bố ngạo mạn về một quan điểm. Đây là sự mô tả phù hợp về khoa học mà tôi đã thấy trong các phòng thí nghiệm ở Cambridge. Khoa học đã mất đi tính khiêm nhường. Ý kiến tự cao đã chiếm ưu thế trong việc tìm kiếm Chân lý một cách khách quan. Câu cách ngôn yêu thích của tôi thời đó là:

"Sự xuất chúng của một nhà khoa học vĩ đại, được đo bằng khoảng thời gian họ cản trở sự tiến bộ trong lĩnh vực của mình"!

Để hiểu khoa học thực sự, người ta có thể quay trở lại với một trong những người sáng lập ra nó, triết gia người Anh Francis Bacon (1561 - 1628). Ông đã thiết lập khuôn khổ để khoa học phát triển, cụ thể là "Ưu tiên tính phủ định ". Nghĩa là, khi đề xuất một lý thuyết để giải thích một hiện tượng tự nhiên nào đó, thì người ta phải cố gắng hết sức để bác bỏ nó (nếu 0 bác bỏ được thì mới chấp nhận)! Người ta sẽ kiểm tra lý thuyết bằng các thí nghiệm đầy thử thách. Người ta phải đưa nó ra xem xét với lý lẽ chặt chẽ. Khi một lỗ hổng xuất hiện trong lý thuyết, chỉ khi đó khoa học mới tiến bộ. Khi có một khám phá mới được thực hiện tức là lý thuyết được điều chỉnh và cải tiến. Phương pháp khoa học cơ bản và độc đáo này cho rằng không thể chứng minh điều gì một cách chắc chắn tuyệt đối. Người ta chỉ có thể bác bỏ nó một cách chắc chắn tuyệt đối.

Ví dụ, làm thế nào người ta có thể chứng minh định luật hấp dẫn cơ bản rằng "cái gì lên thì cuối cùng sẽ xuống"? Người ta có thể ném đồ vật lên một triệu lần và thấy chúng rơi xuống một triệu lần. Nhưng điều đó vẫn chưa chứng minh được “có lên có xuống”. Vì NASA sau đó có thể 'quăng' tên lửa Saturn vào không gian để khám phá Sao Hỏa và nó không bao giờ rơi trở lại Trái đất. Một ví dụ phủ định là đủ để bác bỏ lý thuyết ấy một cách chắc chắn tuyệt đối.

Một số nhà khoa học sai lầm duy trì lý thuyết cho rằng không có sự tái sinh, rằng dòng tâm thức này không có khả năng quay trở lại kiếp người kế tiếp. Theo khoa học, tất cả những gì người ta cần để bác bỏ lý thuyết này là tìm ra một trường hợp tái sinh, chỉ một trường hợp thôi là đủ! Giáo sư Ian Stevenson, như một số bạn đã biết, đã chứng minh nhiều trường hợp tái sinh. Thuyết không tái sinh đã bị bác bỏ. Tái sinh bây giờ là một sự kiện được khoa học chứng minh!

Khoa học hiện đại không thích những nỗ lực bác bỏ các lý thuyết mà nó yêu mến. Có quá nhiều quyền lợi về quyền lực, uy tín và tài trợ nghiên cứu được bảo đảm. Lòng tận tụy dũng cảm với sự thật đã khiến quá nhiều nhà khoa học phải dấn thân vào rủi ro. Phần lớn các nhà khoa học bị tẩy não bởi trình độ học vấn và các cuộc hội thảo trong nhóm của họ để nhìn thế giới theo một cách rất hạn hẹp, vi mô. Những nhà khoa học tồi tệ nhất là những người cư xử như những nhà truyền giáo lập dị, cho rằng chỉ có họ mới có toàn bộ sự thật và sau đó áp đặt quan điểm của mình lên những người khác.

P.1

Người bình thường biết rất ít về khoa học nên họ khó có thể hiểu được thuật ngữ. Tuy nhiên, nếu họ đọc trên báo hoặc tạp chí mà “một nhà khoa học nói thế” thì họ sẽ tự động coi đó là sự thật. Vậy khi phản ứng của chúng ta khi đọc trên cùng một tạp chí rằng "một chính trị gia nói thế” thì sao? Tại sao các nhà khoa học lại có được sự tín nhiệm không thể chối cãi như vậy? Có lẽ chính vì ngôn ngữ và nghi lễ của khoa học đã trở nên quá xa vời với người dân thường nên các nhà khoa học ngày nay đã trở thành những thầy tu được tôn kính và thần bí. Mặc áo khoác phòng thí nghiệm màu trắng mang tính nghi lễ, tụng kinh những câu thần chú khó hiểu về các vũ trụ song song fractal đa chiều, và thực hiện các nghi lễ ma thuật biến kim loại và nhựa thành TV và máy tính, những nhà giả kim thời hiện đại này thật tuyệt vời, chúng ta sẽ tin bất cứ điều gì họ nói. Người ta cho rằng Khoa học tinh hoa thì không thể sai lầm.

Một số người thì hiểu vấn đề hơn. Phần lớn những gì tôi học được cách đây 30 năm nay đã được chứng minh là sai. May mắn thay, có nhiều nhà khoa học liêm chính và khiêm tốn khẳng định rằng khoa học tốt nhất vẫn là một công việc đang được tiến triển. Họ biết rằng khoa học chỉ có thể gợi ý một sự thật chứ không bao giờ có thể khẳng định sự thật. Có lần tôi được một bác sĩ Phật giáo nói; rằng, vào ngày đầu tiên đến trường y ở Sydney, vị Giáo sư nổi tiếng, hiệu trưởng Trường Y, bắt đầu bài phát biểu chào mừng của ông bằng câu nói "Một nửa những gì chúng tôi sẽ dạy cho các bạn trong vài năm tới là sai. Vấn đề là chúng tôi không biết đó là nửa nào!" Đó là lời nói của một nhà khoa học thực sự.

Một số nhà khoa học theo đạo Tin lành sẽ làm tốt hơn khi suy ngẫm về câu nói xưa (đã được chỉnh sửa) "Các nhà khoa học lao vào nơi mà các thiên thần sợ phải bước chân vào" và ngừng tuyên truyền về bản chất của tâm trí, hạnh phúc và thậm chí cả Niết bàn. Các nhà thần kinh học đặc biệt dễ mắc chứng rối loạn thần kinh như vậy (Neurosis: tuân thủ quá mức những ý tưởng phi thực tế về sự vật). Họ tuyên bố rằng tâm trí, nhận thức và ý chí hiện nay được giải thích là hoạt động trong não. Lý thuyết này đã bị bác bỏ hơn 20 năm trước bởi phát hiện của Giáo sư Lorber về một sinh viên tại Đại học Sheffield có chỉ số IQ là 126, có bằng hạng nhất về toán học nhưng hầu như không có não (Khoa học, Tập 210, ngày 12 tháng 12 năm 1980)! Gần đây hơn, lý thuyết đã bị bác bỏ bởi Giáo sư Pim Van Lommel, người đã chứng minh sự tồn tại của hoạt động ý thức sau khi chết lâm sàng, tức là khi tất cả hoạt động của não đã chấm dứt (Lancet, Tập 358, ngày 15 tháng 12 năm 2001, trang 2039).

Mặc dù có thể có mối tương quan giữa một hoạt động trong não và một hoạt động tinh thần (tâm), nhưng sự đồng diễn như vậy không phải lúc nào cũng có nghĩa rằng cái này là nguyên nhân của cái kia. Ví dụ, cách đây vài năm, nghiên cứu đã chỉ ra mối tương quan rõ ràng giữa việc hút thuốc lá và việc không mắc bệnh Alzheimer. Không phải hút thuốc lá giúp cho khả năng miễn dịch khỏi bệnh Alzheimer, như những gì các công ty thuốc lá mong muốn được như vậy, mà là người hút thuốc có thể không sống đủ lâu để mắc bệnh Alzheimer! Như vậy, sự xuất hiện đồng thời của hai hiện tượng, ngay cả khi được lặp lại, không có nghĩa là hiện tượng này là nguyên nhân của hiện tượng kia. Cho rằng hoạt động trong não tạo ra nhận thức hoặc tâm rõ ràng là phản khoa học.

Phật giáo có tính khoa học hơn là khoa học hiện đại. Giống như khoa học, Phật giáo dựa trên mối quan hệ nhân quả có thể kiểm chứng được. Nhưng không giống như khoa học ở chỗ Phật giáo thách thức mọi niềm tin. Kinh Kalama nổi tiếng của Phật giáo nói rằng người ta không thể tin tưởng hoàn toàn vào “những gì người ta được dạy, truyền thống, tin đồn, kinh điển, logic, suy luận, bề ngoài, sự đồng ý với quan điểm đã được xác lập, năng lực có vẻ giỏi của người thầy, hoặc thậm chí của chính thầy giáo thọ của mình". Có bao nhiêu nhà khoa học có lối suy nghĩ khắt khe như thế này? Phật giáo thách thức mọi thứ, kể cả logic.

Điều đáng chú ý là Lý thuyết Lượng tử có vẻ khá phi logic khi nó lần đầu tiên được đề xuất, ngay cả đối với những nhà khoa học vĩ đại như Einstei, nhưng nó vẫn chưa bị bác bỏ. Logic chỉ đáng tin cậy khi có những giả định làm cơ sở cho nó. Phật giáo chỉ tin vào kinh nghiệm rõ ràng và khách quan.

Trải nghiệm trở nên rõ ràng khi các dụng cụ đo lường, tức là các giác quan của ta sáng sủa và không bị xáo trộn. Trong Phật giáo, điều này xảy ra khi những chướng ngại của lười biếng và bồn chồn và hối hận đều được khắc phục. Kinh nghiệm khách quan thoát khỏi mọi thành kiến. Trong Phật giáo, có ba loại thành kiến là dục vọng, sân hận và hoài nghi. Ham muốn khiến người ta chỉ nhìn thấy những gì người ta muốn thấy, nó bẻ cong sự thật để phù hợp với sở thích của người ta. Ý chí sân hận khiến người ta mù quáng trước bất cứ điều gì gây xáo trộn hoặc bối rối đối với quan điểm của một người và nó bóp méo sự thật bằng cách phủ nhận. Hoài nghi ngoan cố từ chối chấp nhận những sự thật đó, chẳng hạn như sự tái sinh, những sự thật đó rõ ràng có giá trị nhưng không giúp người ta dễ chịu với nó. Tóm lại, kinh nghiệm rõ ràng và khách quan chỉ xảy ra khi ‘Năm Chướng ngại’ (triền cái) trong Phật giáo đã được khắc phục. Chỉ khi đó người ta mới có thể tin tưởng vào dữ liệu đến từ các giác quan của mình.

P.2

Bởi vì các nhà khoa học không thoát khỏi năm trở ngại này (triền cái – tham, sân, hôn trầm, trạo hối, hoài nghi) nên họ hiếm khi thấy rõ ràng và khách quan. Ví dụ, các nhà khoa học thường bỏ qua những dữ liệu khó chịu, không phù hợp với lý thuyết mà họ yêu thích, hoặc nhốt những bằng chứng đó vào quên lãng bằng cách cất giữ nó và cho là 'sự bất thường'. Thậm chí hầu hết các Phật tử cũng không rõ ràng và khách quan. Người ta phải có kinh nghiệm đắc thiền Jhana gần đây để loại bỏ năm chướng ngại này một cách hiệu quả (theo Kinh Nalakapana, Majjhima số 68). Vì vậy, chỉ những thiền giả đắc thiền mới có thể tự nhận mình là những nhà khoa học thực sự, nghĩa là rõ ràng và khách quan.

Khoa học tuyên bố không chỉ dựa vào sự quan sát rõ ràng và khách quan mà còn dựa vào sự đo lường. Nhưng đo lường trong khoa học là gì? Để đo lường một cái gì đó, theo khoa học thuần túy của Lý thuyết Lượng tử, là phá vỡ phương trình sóng Schroedinger thông qua một hành động quan sát. Hơn nữa, dạng "không thu gọn" của Phương trình Sóng Schroedinger, tức là trước khi thực hiện bất kỳ phép đo nào, thì đó mới là mô tả hoàn hảo nhất của khoa học về thế giới. Mô tả đó thật kỳ lạ! Thực tế, theo khoa học thuần túy, không bao gồm vật chất có trật tự tốt với khối lượng, năng lượng và vị trí chính xác trong không gian, thì tất cả cần được đo lường. Thực tế là trong tất cả các khả năng, chỉ có một số khả năng xảy ra nhiều hơn những khả năng khác. Ngay cả những phẩm chất cơ bản 'có thể đo lường được' như 'sống' hay 'chết' đôi khi cũng được khoa học chứng minh là không có giá trị. Trong thí nghiệm tưởng tượng nổi tiếng 'Con mèo của Schroedinger', con mèo của Giáo sư Schroedinger đã được khéo léo đặt vào một tình huống thực tế, nơi nó không chết cũng không còn sống, nơi mà không thể đo lường. Thực tế, theo Lý thuyết lượng tử, nằm ngoài sự đo lường. Đo lường làm xáo trộn thực tế, mà không bao giờ mô tả thực tế một cách hoàn hảo. Chính 'Nguyên lý bất định' nổi tiếng của Heisenberg đã chỉ ra sai lầm không thể tránh khỏi giữa thế giới Lượng tử thực và thế giới đo lường của các nhà khoa học giả hiệu.

Dù sao đi nữa, làm sao ai có thể đo được cái thước đo, là tâm trí? Tại một cuộc hội thảo gần đây về Khoa học và Tôn giáo mà tôi là diễn giả, một khán giả Công giáo đã dũng cảm tuyên bố rằng bất cứ khi nào cô nhìn qua kính viễn vọng để ngắm các vì sao, cô đều cảm thấy khó chịu vì tôn giáo của mình bị đe dọa.  Tôi nhận xét rằng bất cứ khi nào một nhà khoa học có cái nhìn khác thông qua kính viễn vọng để quan sát chính họ, thì họ cảm thấy không thoải mái vì khoa học của họ bị đe dọa bởi những gì đang nhìn thấy! Vậy thì cái thấy là gì, cái tâm này là gì mà khoa học hiện đại vẫn chưa hiểu được?

Một giáo viên lớp Một từng hỏi cả lớp "Cái gì lớn nhất trên thế giới?" Một bé gái trả lời "Bố cháu". Một cậu bé nói "Con voi" vì cậu ấy vừa mới đến sở thú. Một cô bé khác nói "Một ngọn núi".  Cô con gái sáu tuổi của bạn thân tôi đã trả lời: "Con mắt của con lớn nhất trên thế giới"! Lớp học dừng lại. Ngay cả giáo viên cũng không hiểu câu trả lời của cô.  Vì vậy, cô triết gia nhỏ giải thích: "Là vì mắt cháu có thể nhìn thấy bố, con voi và cả một ngọn núi nữa. Nó cũng có thể nhìn thấy rất nhiều thứ khác. Nếu tất cả những thứ đó có thể lọt vào mắt cháu thì mắt cháu phải là thứ lớn nhất trong thế giới"! Xuất sắc.

Tuy nhiên, cô bé không hoàn toàn đúng. Tâm có thể nhìn thấy mọi thứ mà mắt có thể nhìn thấy và nó còn có thể thấy/tưởng tượng ra nhiều điều hơn thế nữa. Nó cũng có thể nghe, ngửi, nếm và xúc chạm cũng như suy nghĩ.  Trên thực tế, mọi thứ mà ta biết được đều vừa vặn với tâm trí. Vì vậy, tâm phải là thứ lớn nhất trên thế giới. Nên sai lầm của khoa học bây giờ là hiển nhiên. Tâm không ở trong não, cũng không ở nơi thân. Bộ não, cơ thể và cả thế giới đều ở trong tâm trí!

Theo Phật Giáo, tâm được tính là căn thứ sáu bao gồm năm giác quan: thị giác, thính giác, khứu giác, vị giác và xúc giác, và tâm còn có thể làm nhiều hơn thế nữa.  Nó hơi tương ứng với khái niệm “ý thức chung” của Aristotle, khác biệt với năm giác quan. Thật vậy, triết học Hy Lạp cổ đại, nơi được cho là khởi nguồn của khoa học, đã nói về sáu giác quan/căn giống như Phật giáo.  Ở đâu đó trên hành trình lịch sử của tư duy châu Âu, họ đã bỏ quên điều đó! Hoặc, như Aristotle đã nói, bằng cách nào đó họ đã loại bỏ “ý thức chung – căn thứ 6 ” này! Và nhờ vậy mà chúng ta có được khoa học. Có thể nói một cách chính xác rằng Phật giáo là khoa học có tính đến tâm.

Như vậy Phật giáo không phải là một hệ thống tín ngưỡng. Phật Giáo là một khoa học được thành lập dựa trên sự quan sát khách quan là thiền định, luôn cẩn trọng không làm xáo trộn thực tế bằng việc áp đặt các phép đo đạc do con người nghĩ ra và rõ ràng là điều đó có thể lặp lại. Người ta đã tái tạo lại các điều kiện thực nghiệm, được gọi là thiết lập các yếu tố của Bát Chánh Đạo, trong hơn hai mươi sáu thế kỷ nay, lâu hơn nhiều so với khoa học. Và các vị Giáo sư Thiền nổi tiếng, các vị A-la-hán nam và nữ, đều đã đi đến kết luận giống như Đức Phật. Họ đã xác nhận Chánh Pháp vượt thời gian, hay còn gọi là Phật giáo. Vì vậy, Phật giáo là khoa học thực sự duy nhất, và tôi vui mừng nói rằng trong thâm tâm tôi vẫn là một nhà khoa học, chỉ là một nhà khoa học giỏi hơn nhiều so với những gì tôi từng có ở Cambridge.

P.3

 

Comments

Popular posts from this blog