Kinh BĀHIYA - Trong
cái thấy chỉ là cái thấy
Ajahn Brahmavamso tháng 5 năm 2005
Nhiều Phật tử nghĩ về Giáo Pháp quá nhiều và thực hành quá
ít. Do thiếu kinh nghiệm về việc giữ giới và các tầng thiền Jhāna, họ vô tình
bóp méo Giáo Pháp bằng mơ tưởng của riêng mình. Thật không may, một số vị này lại
là những vị thầy dạy Pháp.
Một ví dụ về việc giáo lý của Đức Phật bị bóp méo như thế
nào có trong lời dạy ngắn gọn nổi tiếng của Đức Phật đối với Bāhiya (Kinh
Bahiya) trong Udāna (Ud 1.10). Bāhiya không phải là một nhà sư. Kinh không ghi
lại việc ông bố thí,(1) cũng không quy y Tam Bảo, cũng không giữ bất kỳ giới luật
nào. Hơn nữa, bài kinh không hề đề cập đến việc Bāhiya từng thiền định, chứ đừng
nói đến việc đắc các tầng thiền Jhāna. Tuy nhiên, sau khi nhận được một lời dạy
rất ngắn gọn từ Đức Phật, Bāhiya đã hoàn toàn giác ngộ, trở thành một bậc
Arahant chỉ trong vòng vài giây!
Đoạn Kinh này rất nổi tiếng trong giới Phật giáo, bởi vì nó
dường như khiến cho người ta nghĩ việc Giác ngộ trở nên dễ dàng đến thế. Có vẻ
như bạn không cần phải là một nhà Sư, bạn có thể keo kiệt và không bố thí,
không cần những nghi lễ như quy y, giới luật là không cần thiết, và thậm chí cả
thiền định cũng có thể tránh được! Thật là nhẹ nhõm - đối với một số người! Tất
cả những gì bạn cần là trí thông minh và mọi người đều nghĩ rằng họ thông minh.
(Bạn nghĩ rằng bạn thông minh, đúng không?) Điều này làm cho Kinh Bāhiya vừa hấp
dẫn vừa khét tiếng.
Vậy nội dung Kinh này là gì? Sau đây là diễn giải của riêng
tôi
“Bāhiya, ông nên rèn
luyện bản thân như thế này: trong cái thấy chỉ là cái thấy; trong cái nghe chỉ
là cái nghe; trong cái cảm giác(2) chỉ là cái cảm giác; trong cái nhận thức chỉ
là cái nhận thức. Tu tập theo cách này, Bāhiya, ông sẽ không (nghĩ tiếp) ‘vì điều đó …'. Khi không nghĩ 'vì điều đó …'
ông sẽ không (nghĩ tiếp) 'trong đó …' (tức là cứ tiếp tục suy diễn – ng dịch).
Và khi bạn không (nghĩ) 'trong đó' thì bạn sẽ không ở đây, không ở kia, không ở
đâu giữa thái độ nhị nguyên. Đây chính là sự kết thúc của đau khổ.”
Và rồi Bāhiya đã hoàn toàn giác ngộ. Nghe có vẻ dễ dàng phải
không? Bạn vừa đọc bài giảng tương tự. Bạn đã đạt được sự giác ngộ hoàn toàn
chưa? KHÔNG! Tại sao không?
Thường thì câu chuyện có nhiều tình tiết hơn những gì được
ghi lại trong kinh. Thông thường, kinh chỉ ghi lại những điểm chính nổi bật chứ
không phải cả một câu chuyện dài. Cũng giống như những bức ảnh cưới không ghi lại
cuộc gặp gỡ đầu tiên, cuộc hẹn hò và những cuộc tranh cãi, rất nhiều bài kinh
không ghi lại tất cả những gì xảy ra trước khi đưa đến kết quả (là bài kinh ấy).
Vậy toàn bộ câu chuyện về Bāhiya là gì? Làm thế nào chúng ta có thể hiểu đoạn
cuối, được ghi lại cho hậu thế trong Udāna, vào bối cảnh đầy đủ của nó? May mắn
thay, toàn bộ câu chuyện được ghi lại trong Apadāna (tiền kiếp của các vị Arahant)
và trong các chú giải.
Trong 1 tiền kiếp, Bāhiya là một nhà sư dưới thời Đức Phật
Kassapa. Cùng với sáu nhà sư khác, vị ấy leo lên một ngọn núi cao, vứt chiếc
thang đi và quyết tâm ở trên tảng đá cao (tu tập thiền định) cho đến khi họ
giác ngộ hoặc chết. Một trong bảy vị tỳ khưu đã trở thành A-la-hán, một vị khác
trở thành Anāgāmī (Thánh Bất Lai), năm vị còn lại chết trên núi. Bāhiya là một
trong năm người này. Trong kiếp chót này, Bāhiya là một thủy thủ, đã đi biển
thành công bảy lần. Trong chuyến đi thứ tám, ông bị đắm tàu nhưng vẫn sống sót
dạt vào bờ nhờ bám vào một tấm ván gỗ.
Vì mất hết quần áo, ông dùng tạm vỏ cây làm y phục và đi khất thực ở thị trấn
Suppārakā. Người dân thị trấn rất ấn tượng với vẻ ngoài của ông và cúng dường
thức ăn, dành cho ông sự tôn trọng và thậm chí tặng ông một bộ quần áo đắt tiền.
Khi Bāhiya từ chối nhận bộ quần áo mới, mọi người càng quý trọng ông hơn.
Bāhiya đã có được một cuộc sống thoải mái nên không quay trở lại biển. Người
dân coi Bāhiya như một vị Arahant. Chẳng bao lâu, Bāhiya cũng nghĩ mình là một
vị Arahant!
P.1
Vào thời điểm đó, một vị thiên đã nhận ra suy nghĩ sai lầm của
Bāhiya và vì lòng bi mẫn đã khiển trách ông. Vị thiên đó không ai khác chính là
vị sư đồng tu trước đây với ông, một trong bảy vị, người đã trở thành bậc Thánh
Bất Lai Anāgāmī. (Thật thú vị khi nói
thêm rằng bốn vị sư còn lại cũng tái sinh vào thời điểm này, và tất cả họ, giống
như Bāhiya, cuối cùng đã đạt được giác ngộ viên mãn - Arahant. Các vị ấy là
Pukkusāti, Sabhiya, Kumārakassapa và Dabba người Mallian.) Sau đó Vị thiên đạt
quả vị Bất Lai thông báo cho Bāhiya về một vị Arahant đích thực, là Đức Phật, đang
sống vào thời đó ở đầu bên kia của nước Ấn Độ, tại Sāvatthi. Bāhiya ngay lập tức
rời Suppārakā (Sopāra ngày nay, ngay phía bắc Mumbai) và đến Sāvatthi (cách
Balrumpur 17 km về phía tây) chỉ trong một đêm. Bāhiya gặp Đức Phật khi ngài
đang đi khất thực và thỉnh cầu một bài giảng. Lúc đầu Đức Phật từ chối vì lúc
đó không thích hợp. Nhưng khi được thỉnh cầu lần thứ ba, Đức Phật đã ngưng việc
khất thực của mình và đưa ra lời dạy nổi tiếng nêu trên. Chỉ trong vài giây sau
khi nghe Pháp đó, Bāhiya đã hoàn toàn giác ngộ. Vài phút sau, Vị Arahant Bāhiya
bị một con bò mẹ giết chết.
Vì vậy, hoàn cảnh của Bāhiya rất đặc biệt. Ông đã từng là một
nhà sư dưới thời Đức Phật Kassapa. Sức mạnh quyết tâm mạnh mẽ đến mức Ngài đã
tu tập thiền định trên núi chỉ có đạt được giác ngộ hoặc chết. Trong kiếp này,
vị ấy có thể nghe thấy vị thiên nói chuyện với mình và vị ấy có thể vượt qua
hơn nửa nước Ấn Độ, khoảng 1.300 km theo đường du hành trên không trung, chỉ
trong một đêm. Nếu bạn có nền tảng như vậy từ kiếp trước và đã có những năng lực
thần thông như vậy trong kiếp này, thì có lẽ bạn cũng đã Giác ngộ khi đọc bài
Kinh Bāhiya cách đây vài phút!
Thông thường người ta cần phải có định (samadhi) rất sâu, đạt
các tầng thiền, để có được thần thông như vậy. Chắc chắn Bāhiya có thiên hướng
thiền định vì kiếp trước của mình. Và khả năng thần thông về 'thiên nhĩ thông'
đã giúp vị ấy có thể nghe được tiếng chư thiên, và 1 khả năng thần thông khác
đã giúp vị ấy di chuyển rất nhanh, cho thấy rằng vị ấy đã đắc thiền Jhāna trước
khi nghe được tiếng chư thiên. Có lẽ đây là một lý do khác khiến vị này tự coi
mình là một vị A-la-hán. Mặc dù không được đề cập trong kinh điển, có nhiều bằng
chứng cho thấy rằng Bāhiya đã đắc thiền Jhāna.
Ít người biết rằng cũng chính bài Kinh Bāhiya này được Đức
Phật thuyết giảng cho vị sư già Mālunkyaputta (SN 35.95). Vị Mālunkyaputta xuất
hiện nhiều lần trong kinh. Đặc biệt, trong bài kinh 64 của Majjhima Nikāya, chắc
chắn xảy ra trước thời điểm Mālunkyaputta được giảng bài kinh Bāhiya, đầu tiên
Đức Phật chê trách Mālunkyaputta về tà kiến của ông và sau đó dạy sự cần thiết
phải đạt được ít nhất một trong các tầng thiền (Jhāna) để diệt trừ năm (hạ phần)
kiết sử thấp (3) (và nhờ đó đạt được Quả Bất Lai). Đức Phật đã nói với Tôn giả
Mālunkyaputta rằng không thể đạt được Bất Lai (huống chi là giác ngộ viên mãn
Arahant) nếu không có thiền Jhāna, giống như không thể chạm tới tâm gỗ mà không
đi qua vỏ và dác gỗ trước. Hãy nghĩ về điều này.
Vì vậy, Tôn giả Mālunkyaputta lần đầu tiên được dạy về sự cần
thiết của việc đắc các tầng thiền Jhāna, và sau đó ông được truyền dạy bài Kinh
Bāhiya. Sau khi nghe bài Kinh Bāhiya, vị ấy 'ở một mình, ẩn dật, tinh tấn,
siêng năng và kiên quyết' Mālunkyaputta nhanh chóng trở thành một vị A-la-hán.
Do đó, chắc chắn rằng Mālunkyaputta đã đạt được các tầng thiền Jhāna trước khi nghe
bài Kinh Bāhiya. Nếu không thì rõ ràng là Đức Phật không nhất quán. Điều này
cũng làm tăng thêm trọng lượng cho suy luận rằng Bāhiya cũng đã có kinh nghiệm
đắc các tầng thiền Jhāna trước khi nghe lời dạy tương tự - nếu không thì vị ấy
đã đi đến lõi cây mà không đi qua vỏ và dác cây!
P.2
Vipallāsa – Điên đảo Mộng Tưởng(4)
Vậy thì Bāhiya và Tôn giả Mālunkyaputta đã thấy điều gì
trong những lời dạy của Đức Phật mà trở thành vị Arahant? ‘Trong cái thấy sẽ chỉ
là cái thấy’ có nghĩa là gì?
Có nghĩa là thấy mà không có bất kỳ sự biến dạng, bóp méo dữ
liệu nào, không thêm hoặc bớt. Theo như tâm lý học hiện đại, những gì thu hút sự
chú ý của chúng ta là “cái nhìn thấy” đã bị sàng lọc và bóp méo bởi những ham
muốn và ác cảm của chúng ta. Quá trình biến dạng này xảy ra mà ta không nhận thức
được. Ta không thể nhìn thấy quá trình này khi nó diễn ra. Đó là tiềm thức.
Chúng ta chỉ có thể suy ra sự xuất hiện của nó. Chúng ta phát hiện ra rằng sở
thích của chúng ta đã tô điểm dữ liệu để hiển thị trong đầu chúng ta những gì
chúng ta muốn thấy, trong khi sự ghét bỏ thì đẩy ra, 0 cho thâm nhập vào tâm
trí những điều mà chúng ta không muốn thấy. Những gì chúng ta thấy hiếm khi đơn
thuần chỉ là cái thấy. Những gì chúng ta thấy với sự chú ý đơn thuần hiếm khi
là sự thật. Đó không phải là cách mọi thứ diễn ra như thật, nó chỉ là cách mọi
thứ có vẻ như vậy (vì chúng ta thích như vậy).
Đáng lẽ chúng ta phải có đủ kinh nghiệm sống để biết điều
này. Khi đàn ông nhìn thấy một người phụ nữ đẹp, họ nhìn thấy gì? Hầu hết mọi
người, ngay cả các nhà sư, không nhìn thấy những gì thực sự ở đó – chỉ có cơ,
gân, da và tóc – thay vào đó họ nhìn thấy một cô gái xinh đẹp ngốc nghếch! Suy
nghĩ đó đến từ đâu? Ham muốn tình dục của chúng ta đã thêm thắt vào, bóp méo hiện
thực. Khi nhìn thấy thi thể mẹ chúng ta vừa mới qua đời, bạn thấy gì? Một lần nữa,
bạn không nhìn thấy những gì thực sự ở đó – chỉ là cơ, gân, da và tóc – thay
vào đó bạn nhìn thấy một thảm kịch, một nỗi buồn đau. Sự dính mắc của bạn đã
làm tăng thêm đau khổ. Nó đã bóp méo sự thật.
Ở Đông Bắc Thái Lan nhiều năm trước, trong những tu viện rừng
rậm và hẻo lánh, tôi phải ăn châu chấu, ếch, kiến và các loài côn trùng bò
khác. Đó là tất cả những gì chúng tôi có để ăn (do PT cúng dường). Món ăn thông
thường là cà ri trứng kiến. Khi bạn vừa đọc đến đây, bạn đang thực hành 'trong
cái thấy sẽ chỉ là cái thấy' hay bạn đã thêm vào sự ghê tởm của chính mình?
Châu chấu chiên thực sự khá ngon. Chúng ta đã thêm bao nhiêu điều chúng ta
thích và không thích vào cái ta thấy?
Một công ty du lịch muốn thuê một nha sĩ cho tàu du lịch của
họ. Vì vậy, họ đã tìm trong các Trang Vàng phần 'Khoan (thật ra là làm răng)
ngoài biển khơi'...! Chúng ta thêm bao nhiêu điều vào những gì chúng ta thấy?
Hai mươi lăm thế kỷ trước khi có tâm lý học hiện đại, Đức Phật
đã xác định quá trình bóp méo nhận thức và gọi nó là vipallāsa (các pháp điên đảo
mộng tưởng). Ngài giải thích về cơ bản quá trình này bắt đầu từ góc nhìn. Chính
quan điểm của chúng ta đã bẻ cong nhận thức của chúng ta cho phù hợp với quan
điểm đó. Những nhận thức (đã bị bẻ cong này) sau đó tạo ra những suy nghĩ của
chúng ta. Rồi những suy nghĩ đó củng cố
quan điểm của chúng ta. Đó là một chu kỳ tự điều chỉnh. Quan điểm tạo ra nhận
thức, nhận thức tạo ra những suy nghĩ ủng hộ quan điểm. Đây chính là quá trình điên
đảo mộng tưởng.
Vd tranh luận về việc phá thai. Bạn là người 'ủng hộ cuộc sống'
hay 'ủng hộ quyền lựa chọn'? Cho dù bạn theo quan điểm nào trong số này, nó sẽ
làm hỏng nhận thức của bạn, các lựa chọn phù hợp với quan điểm của bạn khiến
cho bạn không chấp nhận những nhận thức khác trái với quan điểm của bạn. Suy
nghĩ của bạn sẽ được xây dựng từ những nhận thức của bạn, giống như một ngôi
nhà được xây từ những viên gạch. Suy nghĩ sai lầm như vậy sẽ biện minh mạnh mẽ
cho quan điểm của bạn đến mức bạn không thể hiểu tại sao những người khác lại 0
hiểu vấn đề 1 cách đúng đắn như bạn thấy!
Một ví dụ cuối cùng, thiền có dễ dàng với bạn không? Nếu bạn
cho rằng thiền là khó và bạn rất dính mắc vào ý tưởng đó thì thiền sẽ khó khăn.
Quan điểm đó đến từ đâu? Có thể cách đây rất lâu có người nào đó bạn tin tưởng đã
nói với bạn rằng thiền rất khó, bạn tin họ và quan điểm đó vẫn còn nguyên. Hoặc
có lẽ bạn bắt đầu hành thiền mà không được hướng dẫn rõ ràng và chính xác, và
lúc đó bạn cảm thấy khó khăn. Trên cơ sở kinh nghiệm hạn chế đó, bạn đã hình
thành quan điểm vững chắc rằng thiền là khó. Dù quan điểm đó phát sinh thế nào
đi nữa, một khi bạn nghĩ như vậy, việc hành thiền sẽ trở nên khó khăn! Sự dính
mắc của bạn với quan điểm này sẽ làm lệch lạc nhận thức của bạn. Những nhận thức
này trở thành ý thức đầy đủ rằng thiền định là khó khăn. Dựa trên những nhận thức
tiêu cực đó, bạn cho rằng thiền thực ra là rất khó. Chính bạn, và chỉ có bạn, mới
làm cho thiền trở nên khó khăn!
Khi chúng ta hiểu được điều gì đang diễn ra, chúng ta có thể
thay đổi quan điểm như vậy về thiền. Hãy để tôi tẩy não bạn! Hãy để tôi thuyết
phục bạn rằng, bất chấp ai đã nói gì, bất chấp tất cả những thất bại trước đây
của bạn; THIỀN LÀ DỄ DÀNG! THIỀN LÀ DỄ DÀNG! THIỀN LÀ DỄ DÀNG! Hãy để tôi giúp
bạn tin rằng bạn có thể thiền rất tốt. Hãy để tôi giúp bạn tin tưởng rằng bạn
có năng khiếu bẩm sinh thực hành thiền rất giỏi. Bạn đã được tái sinh vào thân
người quý giá và hiện đang đọc những lời dạy vô giá của Phật giáo. Bạn đang sống
khi Giáo pháp đang phát triển và bạn đã gặp được Giáo pháp tuyệt vời đó. Bạn là
một chúng sinh may mắn hiếm có. Bạn đã phải tu tập nhiều kiếp mới có được cơ hội
như thế này. Với rất nhiều lợi điểm như vậy, tất nhiên bạn sẽ có thể hành thiền
tốt. Việc bạn đang đọc điều này chứng tỏ rằng bạn đã có một kho thiện nghiệp khổng
lồ hỗ trợ bạn. Những người khác, kém khả năng hơn bạn nhiều, đã đắc được thiền
Jhāna, vậy tại sao bạn lại không? Một lần nữa, với sự giúp đỡ của tôi, bạn đã
có được cái nhìn tích cực về khả năng thiền định của mình - bạn chỉ nhận thấy thành công trong thiền định
và bạn chỉ nghĩ về thành công trong thiền định. Bạn vừa làm cho việc thiền trở
nên dễ dàng! Bạn đã mở được cánh cửa dẫn đến sự tĩnh lặng, hạnh phúc nội tâm và
các tầng thiền (Jhāna). Hãy thử đi!
P.3
Khám Phá Sự Thật
Vấn đề là, quan điểm cho rằng thiền là khó hay là dễ đều
không đúng sự thật. Cả hai đều là sản phẩm của sự bóp méo những gì được thấy,
nghe, cảm nhận và nhận thức. Cả hai đều là ảo tưởng. Có điều quan điểm tích cực
là một ảo tưởng hữu ích hơn. Trên thực tế, chính quan điểm sẽ đưa bạn đến việc
khám phá sự thật.
Đức Phật giải thích rằng chính Năm Chướng ngại/ Triền cái
(5) đã bóp méo nhận thức và phá hỏng suy nghĩ của chúng ta. Ngài gọi Năm Chướng
ngại/ Triền cái là dưỡng chất nuôi ảo tưởng (AN 10.61). Chướng ngại đầu tiên,
Tham Dục, nó chọn những gì chúng ta muốn thấy, nghe, cảm nhận và nhận thức. Nó
thường tô điểm khiến ảo tưởng trở nên đẹp hơn sự thật bên trong. Nó trình bày
cho ý thức của chúng ta sự mơ tưởng. Chướng ngại thứ hai, Sân hận, là xung lực
tiêu cực ngăn cản chúng ta để ta không thể nhìn, nghe, cảm nhận hoặc nhận thức
những điều chúng ta không muốn biết. Nó làm chúng ta mù quáng, không thấy những
gì khó chịu và trái ngược với quan điểm của chúng ta. Tâm lý học gọi sân hận là
quá trình phủ nhận. Chướng ngại thứ ba là Hôn trầm và Thụy miên (Lười biếng và
Ngủ mê). Điều này không bóp méo những gì chúng ta thấy, nghe, cảm nhận hoặc nhận
thức, mà nó chôn vùi chúng trong sương mù khiến chúng ta không thể phân biệt rõ
ràng. Chướng ngại thứ tư là Điệu cử và hối hận (Bồn chồn và Ăn năn), khiến các
giác quan của chúng ta luôn hoạt động nhanh đến mức chúng ta không có đủ thời
gian để nhìn, nghe, cảm nhận hoặc nhận thức đầy đủ. Thị giác không có thời gian
để hình thành hoàn toàn trên võng mạc của chúng ta trước khi xử lý tiếp. Âm
thanh khó mà được ghi nhận khi chúng ta chuyển sang nghe thứ khác. Chướng ngại
thứ tư là điệu cử (Bồn chồn), và trường hợp đặc biệt của nó là Hối hận (sự bồn
chồn bên trong tâm do hành vi xấu), giống như ông chủ trong văn phòng của bạn
hay yêu cầu quá cao, không bao giờ cho bạn đủ thời gian để hoàn thành một dự án
một cách đúng đắn. Chướng ngại thứ năm là Nghi ngờ, nó làm gián đoạn việc thu
thập dữ liệu bằng những câu hỏi quá sớm. Trước khi chúng ta có thể trải nghiệm
đầy đủ những gì được thấy, nghe, cảm nhận hay nhận thức, thì nghi ngờ can thiệp
vào quá trình này giống như một học sinh tự mãn ngắt lời giáo viên bằng một câu
hỏi giữa bài giảng. Bây giờ bạn có thể nhận thức rằng chính Năm Chướng ngại/phiền
não này đã bóp méo nhận thức, làm bạn nhận thức không đúng như thật, phá hỏng
suy nghĩ và khiến bạn có quan điểm sai lầm.
Những người học hỏi Phật Pháp nghiêm túc đều biết rõ rằng
cách duy nhất để trấn áp Năm Chướng ngại/ Triền cái này là thực hành thiền
Jhāna. Trong Kinh Nalakapāna (MN 68) có nói: một người không đắc thiền thì Năm
Chướng ngại (cộng với bất mãn và mệt mỏi) xâm chiếm tâm trí và tồn tại ở đó. Bất
cứ điều gì kém hơn Jhāna (tức là khi chưa đắc thiền) đều không đủ mạnh mẽ và
lâu dài để trấn áp Năm Chướng ngại một cách trọn vẹn. Vì vậy, ngay cả khi bạn
đang thực hành chánh niệm đơn thuần, với Năm Chướng ngại vẫn còn hoạt động ở mức
độ tiềm thức thì bạn không nhìn thấy mọi thứ như thật, bạn đang nhìn mọi thứ đang
bị bóp méo bởi Năm Chướng ngại/ triền cái này.
Như vậy, để làm theo đúng lời dạy của Đức Phật đối với
Bāhiya và Tôn giả Mālunkyaputta, để ‘trong cái thấy chỉ là cái được thấy, trong
cái nghe chỉ là cái được nghe, trong cái được cảm nhận chỉ là cảm nhận, và
trong cái được nhận biết chỉ là cái nhận biết' - Năm chướng ngại phải bị đè nén
và điều đó có nghĩa là (thực hành) thiền Jhāna!
Nhận Biết Mọi Thứ Đúng Như Thật
Đúng là Năm Chướng ngại sẽ bị kềm chế ngay trước khi nhập định
Jhāna, các chú giải gọi chính xác đó là upacāra samādhi, cận định - 'sự tĩnh lặng
của tâm ở ngưỡng vào định Jhāna' (theo cách dịch của tôi). Vậy làm thế nào bạn
có thể biết chắc chắn rằng Năm Chướng ngại xảo quyệt này, thường hoạt động ở cấp
độ tiềm thức, đã bị trấn áp hoàn toàn? Làm sao bạn biết bạn đang ở trong cận định
(upacāra samādhi)? Cách test nhanh đối với cận định (upacāra samādhi) là bạn có
thể dễ dàng vượt qua cận định để nhập vào sơ thiền! Nơi cận định (upacāra
samādhi) không có chướng ngại, không có trở ngại nào giữa bạn và thiền Jhāna.
Cũng như bạn biết rằng mình đang đứng trước ngưỡng cửa của một ngôi nhà khi
không có gì ngăn cách giữa bạn và căn phòng bên trong, khi đó bạn có thể vào
phòng một cách dễ dàng. Nếu bạn không thể nhập vào thiền Jhāna thì Năm Chướng
ngại vẫn còn đó. Vì vậy, để chắc chắn rằng chúng đã biến mất, bạn hãy thử nhập
vào thiền Jhāna thành công.
P.4
Khi tâm xuất khỏi thiền, nó an trụ ở ngưỡng cửa của định,
nơi cận định (upacāra samādhi), trong một thời gian dài. Giống như khi bạn ra
khỏi nhà, bạn đứng trước ngưỡng cửa. Chính vào thời điểm này, trong giai đoạn
ngay sau chứng nghiệm thiền Jhāna, khi Năm Chướng ngại không còn xâm chiếm và tồn
tại trong tâm trí (theo Kinh Nalakapāna đã đề cập ở trên), thì cuối cùng người
ta có thể thực hành việc 'trong cái thấy chỉ là cái thấy, trong cái nghe chỉ là
cái nghe, trong cái cảm nhận chỉ là cảm nhận, và trong cái nhận biết chỉ là cái
nhận biết'. Như Đức Phật đã nói nhiều lần (ví dụ AN 6.50), chỉ nhờ kết quả của
thiền Jhāna (sammā samādhi) người ta mới thấy sự vật như thật (yathā-bhūtaЯānadassanam)
chứ không phải như chúng có vẻ như vậy.
Sự Kết Thúc của Quan Điểm về cái Ngã/tôi
Một trải nghiệm về Jhāna có thể khiến bạn choáng váng. Ý tôi
là gì? Ý tôi là dữ liệu được cung cấp bởi kinh nghiệm Jhāna, được quán ngay sau
khi xuất thiền (lúc cận định) khi các chướng ngại không thể bóp méo bất cứ điều
gì, sẽ phá hủy ảo tưởng về bản ngã, linh hồn, tôi và của tôi.
Trong sơ thiền thì hầu hết và trong các tầng thiền cao hơn
thì hoàn toàn, những thứ như ý muốn, ý chí, lựa chọn, những gì tôi gọi là 'kẻ tạo
tác', đã biến mất. Dữ liệu quá rõ ràng và Năm Chướng ngại không còn có thể ngăn
cản bạn nhận ra rằng không có ai kiểm soát cơ thể và tâm trí của bạn. Ý chí
không phải là cái tôi, cũng không phải là sản phẩm của cái tôi. Ý chí chỉ là một
quá trình tự nhiên khách quan có thể bị chấm dứt tuyệt đối. Bạn đã tận mắt chứng
kiến điều này và bạn có thể tin tưởng vào trí tuệ này vì nó xảy ra khi Năm Chướng
ngại bị suy yếu và trấn áp. Tuệ này là điều chắc chắn nhất mà bạn từng biết - ý
chí tự do là một ảo tưởng. Bạn là độc giả sẽ không thể đồng ý với tôi. Đó là vì
Năm Chướng ngại của bạn vẫn còn hoạt động và chúng ngăn cản bạn nhìn thấy điều
này. Vì vậy, trước tiên hãy đắc thiền Jhāna, rồi quán chiếu vấn đề này ngay sau
đó. Lúc đó hãy tranh luận với tôi thử xem!
Cũng vậy, trong thiền Jhāna, tôi nói thiền thật chứ không phải
thiền giả, cái thấy, cái nghe và cái cảm giác đều biến mất. Năm giác quan bên
ngoài ngừng hoạt động. Dữ liệu này cũng rất rõ ràng. Khi một người xuất thiền
và quán chiếu lại về sự vắng mặt hoàn toàn của năm giác quan khi đang nhập thiền
Jhāna, trong trạng thái không có chướng ngại của cận định sau thiền Jhāna
upacāra samādhi, người ta sẽ thấy chắc chắn rằng không có bản ngã, linh hồn hay
cái tôi đang quan sát hình ảnh, nghe âm thanh hay cảm nhận mùi, vị và xúc chạm.
Không có bản ngã, linh hồn hay cái tôi nào nhận biết cái đã biết. Ý thức cũng vậy,
tất cả các hình thức, được coi là một quá trình khách quan có thể đi đến sự chấm
dứt hoàn toàn. Nói tóm lại, bạn không đồng nhất với tâm trí của bạn (tâm 0 phải
là cái tôi). Tâm chỉ là một quá trình tự nhiên. Nó hoàn toàn có thể dừng lại.
Nó dừng lại một lần và mãi mãi ở Parinibbāna! Một lần nữa, bạn, độc giả của
tôi, sẽ không thể đồng ý với tôi. Năm Chướng ngại đang hoạt động bên trong bạn
bây giờ, dưới bề mặt nhận thức, ngăn cản bạn nhìn ra sự thật. Nó thách thức
quan điểm cơ bản nhất của bạn, quan điểm 'Bạn Là' (có cái tôi)! Bây giờ đừng lo
lắng về những bất đồng như vậy. Thay vào đó, hãy thực hành cho đến khi bạn đắc
thiền Jhāna và chế ngự được Năm Chướng ngại đó. Rồi xem tôi nói có đúng không
nhé!
Phần cuối trong kinh Bāhiya
“Bāhiya, ông nên tu tập như vầy: trong cái thấy sẽ chỉ là
cái thấy, ... trong cái nhận biết sẽ chỉ là cái nhận biết. Tu tập theo cách
này, Bāhiya, ông sẽ không (nghĩ tiếp) 'vì điều đó'. Khi ông không (nghĩ tiếp)
'vì điều đó', ông sẽ không (nghĩ tiếp) ' trong đó'. Và khi ông không (nghĩ tiếp)
' trong đó' (tức là chỉ nhìn, nghe…, 0 tiếp tục suy diễn dắt dây nhau), ông sẽ
không ở bên đây, không ở bên kia, không ở đâu trong tính nhị nguyên. Đây chính
là sự kết thúc của đau khổ.”
Câu "Bạn sẽ không 'vì điều đó'" nghĩa là gì? Tiếng
Pāli là na tena. Tena nghĩa là 'cái đó'. Na là phủ nhận - không. Nó có nghĩa
đen là “không vì điều đó, không qua cái đó, không bởi cái đó”. Về bản chất, nó
có nghĩa là bạn sẽ không cho rằng có một cái bản ngã, một linh hồn, một cái
tôi; qua/bởi; cái thấy, cái nghe, cái cảm nhận hoặc cái nhận biết. Đức Phật nói
rằng một khi bạn đã thâm nhập được sự thật của trải nghiệm giác quan, bằng cách
trấn áp các Chướng ngại thông qua thiền Jhāna, bạn sẽ thấy rằng không có 'người
tạo tác', cũng không có 'ai biết', đằng sau các trải nghiệm giác quan. Bạn sẽ
không còn có thể sử dụng trải nghiệm giác quan rồi cho đó là bản ngã nữa. Câu
nói nổi tiếng “Tôi tồn tại vì tôi suy nghĩ” của Descartes đã bị bác bỏ. Bạn sẽ
không hiện hữu nhờ có suy nghĩ, cũng không phải do thấy, nghe hay cảm nhận.
Theo lời của Đức Phật, “Bạn sẽ không vì điều đó (bất kỳ trải nghiệm giác quan
nào)”.
Khi các quá trình giác quan bị loại bỏ, 0 còn đại diện cho bản
ngã, linh hồn hay cái tôi, thì các trải nghiệm giác quan không còn là bạn nữa.
Theo lời của Đức Phật, “Bạn sẽ không ở trong đó”. Bạn không còn quan sát, nhận
thức hay thậm chí nghĩ rằng có một cái “tôi” liên quan đến cuộc sống. Theo lời
của bác sĩ trong loạt phim gốc của Star Trek, "Đó là cuộc sống, Jim, nhưng
không phải như chúng ta biết"! Không còn bất kỳ ý thức nào về bản thân hay
linh hồn ở trung tâm của trải nghiệm. Bạn không còn 'trong đó' nữa.
P.5
Để kết thúc lỗ hổng khiến bạn có thể nghĩ rằng khi không có
bản ngã, 0 có linh hồn nghĩa là bạn đang ở trạng thái siêu việt vượt ra ngoài
những gì được nhìn, nghe, cảm nhận hoặc nhận thức, Đức Phật tuyên bố một cách sấm
sét, “và ông sẽ không ở đây (với cái được thấy, nghe, cảm giác hay nhận thức)
cũng không ngoài kia (bên ngoài cái được thấy, nghe, cảm nhận hoặc nhận thức)
cũng không ở đâu giữa tính nhị nguyên
này (tức không có cái tôi tồn tại ở đâu cả). Cụm từ cuối cùng đã khiến những
người ngụy biện hoàn toàn bối rối!
Tóm lại, Đức Phật khuyên cả Bāhiya và Tôn giả Mālunkyaputta
hãy trải nghiệm việc đắc các tầng thiền
Jhāna để ngăn chặn Năm Chướng ngại/ triền cái. Khi đó người ta sẽ thấy rõ ràng
là không có cái tôi hay một linh hồn đằng sau quá trình giác quan. Do đó, kinh
nghiệm giác quan sẽ không bao giờ được coi là bằng chứng của 'người biết' hay
'người làm': đến mức bạn sẽ không bao giờ tưởng tượng được một cái tôi hay một
linh hồn ở trung tâm, hay ở bên ngoài của trải nghiệm, hay ở bất kỳ nơi nào
khác. Kinh Bāhiya trình bày tóm tắt con đường đi đến sự chứng ngộ Vô Ngã,
Anattā.
Đức Phật kết luận: “Chỉ như vậy là chấm dứt khổ đau”.
Phần kết luận
Tôi hy vọng rằng lập luận của tôi đủ mạnh để thách thức bạn,
hay đúng hơn là làm bối rối các điên đảo mộng tưởng (vipallāsa) điều khiển các
giác quan của bạn. Lời dạy ngắn gọn của Đức Phật cho Bāhiya và Tôn giả
Mālunkyaputta không phải là lối tắt dành cho những người siêu thông minh (tức
là 0 phải nghe xong là đắc Arahant liền mà cần phải có quá trình tu học thực
hành). Việc thực hành 'trong cái thấy chỉ là cái thấy...' đòi hỏi phải diệt trừ
Năm Chướng ngại. Việc trấn áp Năm Chướng ngại cần phải đắc thiền Jhāna. Để đắc
thiền Jhāna thì cần phải hoàn thành phần còn lại của Bát Chánh Đạo,(6) là bảy
chi đầu tiên. Để có được 7 chi phần này thì cần có niềm tin vào Tam Bảo, giữ giới
và thực hành bố thí.
Chỉ có một con đường dẫn đến Niết-bàn, đó là Bát Thánh Đạo.
Không có đường tắt.
AGGĀN' ATTHANGIKO SETTHO... ESO'VA MAGGO, NATTHI AÑÑO
DASSANASSA VISUDDHIYĀ "
Con đường tốt nhất là Bát Chánh Đạo... Đây là Con Đường duy
nhất. Không có con đường nào khác, để đạt được sự thanh tịnh của cái thấy (pháp
nhãn thanh tịnh)” Dharmapāda câu 273 và 274 (bản dịch tiếng Anh từ Dharmapāda của
Đại đức Nārada)
Ghi chú
(1) Dāna: Bố thí. Cũng được dùng để mô tả việc cúng dường những
món thực phẩm và những vật dụng cần thiết khác được trao cho chư Tăng.
(2) Cảm giác: Nhìn, Nghe, Ngửi, nếm, xúc chạm
(3) Mười kiết sử: 1. Thân kiến 2. Hoài nghi 3. Giới cấm thủ
(tin rằng có thể trở nên thanh tịnh bằng cách tuân thủ các nghi thức và nghi lễ
bên ngoài), 4. Tham đắm cõi dục, 5.Sân hận, 6. Tham đắm cõi sắc, 7. Tham đắm
cõi vô sắc, 8. Kiêu mạn, 9. Trạo cử, 10. Vô minh.
(4) Vipallāsa: Điên đảo
mộng tưởng, bóp méo nhận thức, tư duy và quan điểm – coi những gì vô thường là
thường hằng; khổ đau là hạnh phúc; xem vô ngã là ngã; và cái gì không đẹp
(asubha) thành đẹp. (Xem vô thường, khổ, vô ngã, bất tịnh là thường, lạc, ngã,
tịnh)
(5) Năm Chướng ngại/ Triền Cái: 1. Tham dục, 2. Sân hận, 3.
Hôn trầm, thụy miên , 4. Điệu cử, hối hận, 5. Nghi ngờ hoài nghi
(6) Bát chánh đạo bao
gồm: (Trí tuệ) 1. Chánh kiến hay hiểu biết đúng đắn. 2. Chánh Tư Duy - Suy nghĩ
hoặc ý định đúng đắn. (Đạo đức) 3. Chánh ngữ. 4. Chánh Nghiệp - Hành động đúng.
5. Chánh Mạng - Sinh kế đúng đắn. (Phát Triển Tâm) 6.Chánh Tinh Tấn. 7. Chánh niệm. 8.
Chánh định, tức là thiền (Jhāna).
Comments
Post a Comment