OBSTACLES - NHỮNG CHƯỚNG NGẠI

Bài thuyết giảng của thầy Ajahn Brahmavamso tại Tu viện Bodhinyana vào ngày 8 tháng 8 năm 2001

Khi thực hành trong khóa tu thiền, chúng ta sẽ luôn gặp phải những khó khăn và trở ngại, như người ta hay nói là 'cái giá phải trả, học phí cho khóa học'. Chúng ta biết sẽ có những trở ngại xuất hiện và điều quan trọng là phải biết chúng để không chỉ lường trước mà còn tránh xa chúng. Con đường dẫn đến Giác Ngộ đã được vạch ra rất rõ ràng nhưng chúng ta thường không đạt được nhiều tiến bộ. Chúng ta không đạt được trạng thái thiền định sâu sắc và các tuệ sâu sắc trong định. Tại sao lại như vậy?

Đó không hẳn là lỗi của bạn vì bên trong không có ai cả. Đó là lỗi của việc không hiểu những chướng ngại là gì và không chú ý giữ chánh niệm về con đường tu tiến đó suốt cả ngày. Vì điều này mà chúng ta lãng phí quá nhiều thời gian, chúng ta có thể lãng phí toàn bộ thời gian tu thiền, toàn bộ cuộc đời của mình. Chúng ta có thể lãng phí nhiều kiếp sống khi nghĩ rằng chúng ta đang thực hành, trong khi thực tế là không phải, điều này tạo ra nguyên nhân khiến con đường tu tiến nhập nhằng. Vì vậy, điều quan trọng là phải thực sự biết những trở ngại là gì. Những trở ngại này bao gồm việc quan tâm quá nhiều đến thân, thọ (các giác quan) và tâm (suy nghĩ). Đây là ba trở ngại lớn mà tôi muốn chỉ ra.

Thân – Chỉ Là Phương Tiện Cho Kiếp Sống Này

Trước hết là mối quan tâm về thân, là quan tâm về việc ngủ, ăn và tập thể dục đầy đủ hay bất cứ điều gì khác liên quan đến việc chăm sóc cái mà chúng ta gọi là thân. Một phần thực hành mà tôi học được từ các vị thầy tu trong rừng ở Thái Lan là đôi khi kiểm tra thân. Không ngủ hoặc ngủ quá nhiều để xem điều gì sẽ xảy ra. Không ăn hoặc ăn quá nhiều để xem điều gì xảy ra. Hãy tìm hiểu chính xác thân này có thể đóng góp gì vào việc thực hành con đường tu tiến, và cũng xem nó có thể cản trở việc thực hành con đường tu tiến như thế nào.

P.1

Thân này là phương tiện cho kiếp sống này. Đó là toàn bộ mục đích của việc có một cơ thể và nó phải được sử dụng đúng cách. Việc sinh vào cõi người này là để có một phương tiện để thực hành và chứng ngộ Giáo Pháp (2), miễn là chúng ta sử dụng thân này một cách đúng đắn. Để có thể sử dụng thân này một cách đúng đắn, chúng ta phải luôn nhớ con đường trung đạo, không quá nuông chiều cơ thể và không hành hạ nó. Làm sao người ta có thể thực sự định nghĩa được con đường trung đạo? Con đường này được mô tả bằng ví dụ về cây đàn trong tích truyện Sona (Vinaya Pitaka, Mahācagga Chap.5). Chỉ khi dây đàn được căng vừa phải, không quá căng, không quá chùng thì mới phát ra âm thanh hay. Và việc tạo ra âm thanh hay có ý nghĩa gì? Có nghĩa là người ta có thể đạt được sự bình an, hạnh phúc nội tâm, chánh niệm và tỉnh thức suốt cả ngày càng lâu càng tốt. Những điều này thì thân không cảm nhận được nhiều mà do tâm cảm nhận, khi cái tâm không quá quan tâm đến những đòi hỏi của thân. Nếu bạn phớt lờ những nhu cầu thiết yếu của thân quá nhiều thì nhu cầu sẽ tăng lên. Nếu bạn chiều theo những nhu cầu đó, chúng cũng sẽ tăng lên, còn nếu bạn tìm được sự cân bằng phù hợp thì cơ thể sẽ không đòi hỏi nhiều nữa.

Chúng ta phải cẩn thận vì cơ thể này có thể đòi hỏi thêm nhiều thứ khác bên cạnh sự thoải mái. Nó có thể lập ra đủ loại kế hoạch về cách cải thiện liêu cốc của bạn, cải thiện tấm y này, làm thế nào để có đôi giày mới cho đôi chân, một chiếc ghế mới, một lò sưởi mới, hay làm thế nào để có được một cái gì đó mới. Thực sự, tất cả những tài sản và đồ vật bên ngoài này là gì? Người ta nên nhận ra rằng càng tìm kiếm nhiều thứ trên đời thì càng tạo ra nhiều trở ngại. Tôi vừa gặp bất hạnh lớn khi có ngày sinh nhật, và mọi người đã chất đầy thiệp và quà cho tôi. Bây giờ tôi phải tìm cách loại bỏ chúng bằng cách cho đi. Có vẻ như tôi càng cố gắng dọn trống liêu cốc của mình thì càng có nhiều thứ lại xuất hiện trong đó, và rồi tôi phải dọn sạch nó ra, và lại có thêm nhiều thứ khác ập vào. Đó dường như là một phần cuộc sống của tôi với tư cách là Sư Cả. Tôi có thể hiểu tại sao là Sư Cả thì điều đó lại xảy ra nhưng khi là một tu sĩ cấp dưới hoặc một hành giả, bạn có thể làm cho khu vực mình sống trống trải hơn không.

Khi còn là giáo viên, tôi được dạy rằng người ta phải phát triển vùng quyền lực, một khu vực xung quanh bạn khoảng hai hoặc ba mét, đó là khu vực quyền lực của bạn. Vì vậy, khi bất kỳ đứa trẻ nào bước vào khu vực đó, chúng đều cảm thấy rằng bạn là người có quyền, bạn đang kiểm soát. Nhưng trong Giáo Pháp, chúng ta được dạy phải có một khu vực trống rỗng khoảng hơn hai mét xung quanh mình, để bạn không sở hữu bất cứ thứ gì ở bên ngoài bạn. Nếu bạn đi vào một văn phòng đông người, một Pháp đường, hay đi khất thực và có rất nhiều người xung quanh, đặc biệt khi đó là lễ mừng sinh nhật, bạn sẽ phát triển khu vực trống rỗng đó xung quanh mình. Bạn nghĩ, ‘Những điều này không liên quan đến tôi, tôi không liên quan gì đến chúng, chúng không phải là ‘tôi’, ‘không phải của tôi’”.

P.2

Nếu bạn có thể phát triển cảm giác trống rỗng xung quanh mình, bạn đang buông bỏ sự dính mắc với thế giới vật chất. Có nhiều cách để vượt qua sự dính mắc với thế giới vật chất và sự quan tâm đến thân. Bạn có thể thực hiện các pháp quán tưởng về thân hoặc các pháp quán tưởng khác. Trong cuộc đời tu sĩ của mình, tôi thấy những cách quán tưởng này có tác dụng. Đó là lý do tại sao tôi luôn dạy nhận thức về tánh Không, và nhận thức không phải ‘tôi’ và ‘không phải của tôi’. Tất cả những mối quan tâm đến những thứ ngoài thân này của tôi, chẳng hạn như thân của người khác, chuyện của người khác, chuyện của bạn, mối quan tâm của bạn, tôi có thể buông bỏ những thứ này rất dễ dàng, chúng không phải của tôi.

Bạn có thể gỡ mình ra khỏi sự dính mắc với thân vật lý theo cách tương tự. Rõ ràng là thân này ‘không phải của tôi’. Nó chỉ là một cái vỏ trong đó ‘tâm’ sống tạm 1 thời gian. Bạn đã chứng kiến ​​rất nhiều cái chết, rất nhiều người bị bệnh, hậu quả của các vụ tai nạn giao thông và rõ ràng là những điều này không liên quan gì đến bạn. Những kiểu quán tưởng này giúp loại bỏ sự quan tâm đến thân. Toàn bộ mục đích của việc bỏ qua mối quan tâm đến thân của chính bạn và các thân của chúng sinh khác là để bạn không thực sự quan tâm đến việc thu hút các thân khác, vì thực tế là bạn thậm chí còn không quan tâm đến thân của chính mình.

Khi bạn thấy được sự thật về thân, nó sẽ khởi sinh nibbidā 4, đó là sự yểm ly, nhàm chán và không quan tâm. Nó giống như việc bạn trải qua một lễ kỷ niệm sinh nhật một cách miễn cưỡng hoặc thậm chí khi trả lời cuộc phỏng vấn hay nói chuyện, bạn làm điều đó một cách miễn cưỡng. Bạn thà ở một mình trong liêu cốc của mình. Bạn đang làm công việc Sư Cả một cách miễn cưỡng. Đó là một nghĩa vụ và bạn không thể thoát khỏi vì đó là việc phải làm. Tận dụng tối đa để quán tưởng. Đây là có sự yểm ly, nhàm chán đối với tất cả những điều này.

P.3

Sự nhàm chán yểm ly có thể có được nhờ đức tin. Niềm tin rằng đây là con đường được các bậc Thánh dạy 5, rằng đây là những gì bạn đọc trong kinh 6. Chúng ta vừa tụng kinh Vô Ngã Tướng Anattalakkhana Sutta, trong đó nói rằng người nào nhìn thấy sự vật đúng như thật sẽ cảm thấy nibbidā – nhàm chán yểm ly đối với chúng. Kinh này đề cập đến năm uẩn7, bao gồm các giác quan (mắt tai mũi lưỡi thân ý), các cảnh (sắc thanh hương vị xúc), sự xúc chạm giữa giác quan và cảnh khiến tâm thức xuất hiện. Ta coi chúng chẳng liên quan gì đến mình. Chúng giống như một cái gai, một cái nhọt hay một cái bàn ủi nóng đỏ mà những kẻ tra tấn sử dụng, chúng chỉ làm phiền bạn mà thôi. Đó là một trong những điều mà bạn có thể nhìn thấy dù chỉ với một chút định tâm 8. Điều tuyệt vời về việc thực hành định: đó là một thử nghiệm vĩ đại chứng minh rằng những lời dạy này là đúng. Định là cách buông bỏ những gánh nặng này, và thấy điều gì xảy ra khi chúng không có mặt, lúc các căn và ngũ uẩn bắt đầu biến mất. Đó là một thí nghiệm tuyệt vời thực sự chứng minh những lời dạy của Đức Phật thông qua chứng nghiệm của chính bạn. Đặc biệt nó dạy bạn rằng thân này chẳng liên quan gì đến bạn cả.

Bạn có thể thực hành thiền bất mỹ asubha 9 (10 đề mục thiền tử thi), nhưng điều đó sẽ không hoàn thành việc giải phóng tâm trí khỏi cơ thể (do thiền Asubha chỉ giúp đạt cao nhất là sơ thiền). Nó sẽ chỉ làm suy yếu sức hấp dẫn của các thân khác. Tôi biết có nhà sư đã thực hành thiền asubha trong nhiều năm và sau đó gặp một người phụ nữ, yêu, xả y và kết hôn. Theo kinh nghiệm của tôi, cần phải có nhiều hơn nữa nếu bạn thực sự mong muốn khẳng định cam kết sống đời tu viện và đắc Đạo. Thực hành thiền tử thi Asubha làm suy yếu sự dính mắc với thân, nhưng để vượt qua thân này một cách trọn vẹn, người ta cần phải biết những gì ở ngoài thân này.

Là các tầng thiền jhāna 10 cung cấp trải nghiệm và chất liệu giúp bạn biết đầy đủ rằng thân này không liên quan gì đến ‘cái tôi’. Lý thuyết và đức tin có thể tạo ra lực đẩy lớn trên đường đi, nhưng sự sáng suốt hoặc trí tuệ mới là điều cần thiết. Đắc thiền Jhāna là những giai đoạn mà tâm đã được giải thoát khỏi thân, đó là lý do tại sao Đức Phật gọi chúng là vimokkha, 11 là trạng thái tự do, cởi trói và giải thoát. Tôi nghĩ đó là thuật ngữ mà Tỳ kheo Bodhi sử dụng và vị ấy là một dịch giả tuyệt vời. Giải thoát khỏi cái gì? Đó chưa phải là sự giải thoát khỏi khổ, chỉ có khi đắc Đạo Quả maggaphala . Đắc thiền Jhana là sự giải thoát khỏi thân và năm giác quan. Khi một người chứng nghiệm được rằng có thể giải thoát khỏi thân này, người ta có thể vượt qua trở ngại rất lớn của thân. Đó là một trong những lý do tại sao nhiều Tỳ Kheo khác và tôi dạy tất cả những điều này bằng nhiều cách khác nhau để khuyến khích và đôi khi dùng mẹo để giúp 1 người đắc định, để họ có thể tự mình nhìn thấy những trải nghiệm này.

P.4

Quá trình Chứng Đắc Diễn Ra Tuần Tự

Một trong những chướng ngại khác có thể xuất hiện là chướng ngại của tâm/tư tưởng. Bạn có thể mô tả về  thiền trong nhiều giờ hoặc nhiều năm, nhưng bản thân trải nghiệm thiền thực tế sẽ rất khác. Vì vậy, tất cả sự phỏng đoán, suy đoán và tranh luận về thế nào là tầng thiền jhāna, đều lãng phí thời gian. Điều duy nhất bạn có thể làm là truyền cảm hứng cho một người bằng những mô tả của bạn. Bạn không thể nói cho họ cảm thấy nó như thế nào nhưng bạn có thể cho họ một số manh mối về cách đến đó. Mọi người phải tự mình đi vào bên trong cánh cửa đó. Sử dụng một ví dụ của Thầy Ajahn Chah, ‘bạn không thể dùng lời diễn tả vị ngọt của một quả táo, ngay cả một nhà thơ cũng không thể làm được điều đó. Bạn chỉ cần đưa cho quả táo cho một người rồi nói 'cắn nó đi' và cho họ trải nghiệm sự thật'. Có rất nhiều trở ngại trong đời sống xuất gia đến từ việc suy nghĩ không phải lúc và từ việc có quan điểm, suy luận và thảo luận về mọi việc trước khi đạt được định. Định trước rồi mới đến trí tuệ!

Vì thế chướng ngại của thân là điều chúng ta cần phải vượt qua, và cùng với đó là chướng ngại của thọ/năm giác quan. Năm giác quan hòa quyện vào nhau một cách phức tạp trong thân này đến nỗi bạn có thể nói thân là năm giác quan, và năm giác quan là thân. Cả hai đi cùng nhau một cách mạnh mẽ và quyền lực, đó là một trong những lý do khiến người ta có thể có những cách quán tưởng khác nhau để đắc thiền. Người ta có thể quán sáu giác quan và sáu căn, hay quán năm uẩn. Bạn có tất cả những con đường, cách quán khác nhau hướng tới cùng một điểm là đạt được định, và sau đó bạn nhìn chúng như thật. Xuyên suốt những lời dạy của Đức Phật và xuyên suốt những trải nghiệm của các Kruba Ajahns12 (các bậc tôn sư theo trường phái sơn lâm), người ta tìm thấy một sợi dây chung; một phong cách trong tuần tự thực hành, mà một khi đã bắt đầu thì không thể thay đổi được.

P.5

Người hành thiền khi đạt đến một mức độ nhất định sẽ chỉ là người quan sát toàn bộ quá trình tiến vào thiền. Quá trình sẽ tự xảy ra. Vấn đề là nỗ lực đạt đến mức độ đó để bắt đầu tiến trình đi vào định. Bạn đã nghe tôi nói về quá trình này rất nhiều lần và bạn đã đọc về nó trong sách. Từ pīti 13  hỷ>> passaddhi – khinh an >> sukha - lạc >> samādhi – định >> yathā bhūta ñānadassana (trí tuệ có được do sự quan sát thực tại đúng như thật) >> nibbidā – yểm ly >> virāga – buông xả >> nirodha – Diệt tận (Nibbana). Đây là cách của vimutti – giải thoát.

Đây là con đường được Đức Phật mô tả. Pīti là cái thường được gọi là hỷ. Passaddhi là khinh an, sự yên tĩnh của cơ thể và tâm trí, dẫn đến hạnh phúc bên trong gọi là sukha lạc. Điều này dẫn đến samādhi định, có nghĩa là các tầng thiềnjhāna, dẫn đến yathā bhūta ñānadassana, nhìn thấy mọi thứ như chúng thực sự là, hay tuệ giác, dẫn đến nibbidā, sự yểm ly, nhàm chán. Nibbidā dẫn đến sự vật tan biến và biến mất, dẫn đến giải thoát diệt tận nirodha, Nibbāna 14. Đây là con đường. Đó là một quá trình nhân quả tự nhiên xảy ra. Vấn đề là hãy đạt được đến điểm xuất phát và sau đó để mọi chuyện diễn ra tuần tự. Hành giả chỉ chứng kiến toàn bộ quá trình.

Khi phát triển việc quán thân này hay các giác quan, nhìn thấy thân và những thứ khác trên thế giới, chúng ta thấy không chắc chắn và không thể đoán trước được. Một ngày nào đó, bạn nhìn thấy một người và nghĩ rằng họ thật xinh đẹp. Một ngày khác bạn nghĩ họ thật xấu xí. Một ngày nọ, bạn nghe ai đó dạy và nghĩ rằng giáo viên đó dạy thật truyền cảm hứng. Ngày hôm sau bạn nghĩ người đó là một kẻ ngốc. Qua giác quan của âm thanh bạn nghe được lời khen ngợi và bạn nghe được lời chê trách. Đó chỉ là âm thanh, thế thôi. Đừng làm lớn chuyện lên. Bạn mong chờ điều gì? Chúng ta lúc nào cũng nghe khen và chê. Ngay cả Đức Phật cũng trải nghiệm điều đó.

Là một giảng sư, tôi đứng đây và chịu trách nhiệm. Theo cách nói bằng tiếng Anh là ‘Tôi đặt đầu mình lên thớt’. Tôi ngồi đây và bạn chỉ trích tôi, hoặc bạn khen ngợi tôi. Tất cả các vị tôn sư rừng thiền Ajahn Kruba đều được khen và chê, Ajahn Chah và Đức Phật cũng vậy. Mọi người đều trải nghiệm những điều này. Làm sao để bạn đối phó với điều đó? Chỉ là khen và chê, thế thôi. Đó chỉ là những âm thanh mà bạn nghe thấy, bạn chỉ ở đó. Tất cả đều là thọ (vedanā) 15 và tất cả đều vô thường.

Bất cứ điều gì sinh khởi thì chỉ có ba loại thọ (vedanā). Cảm thọ dễ chịu, khó chịu hay trung tính. Bạn không thể chỉ có những cảm giác dễ chịu mà không có những cảm giác còn lại. Điều đó cho bạn thấy rằng trong thân này, điều gì dễ chịu và khó chịu đối với các giác quan xúc giác, thị giác, âm thanh, khứu giác và vị giác, đều nằm ngoài tầm kiểm soát của bạn. Nếu bạn được sinh ra, bạn sẽ phải nghe nhiều điều bạn không thích và nhiều điều truyền cảm hứng cho bạn. Xin đừng phấn khích với điều nào. Chúng là những trở ngại. Vấn đề là trên con đường tu tiến, chúng ta không nên khuyến khích những gì chúng ta muốn nghe hoặc ngăn cản những gì chúng ta không muốn nghe, mà chúng ta nên buông bỏ cả hai.

P.6

Buông bỏ có nghĩa là buông xả, có yểm ly nhàm chán đối với cả năm giác quan, nghĩa là bất cứ điều gì chúng ta nghe, thấy, nếm hay ngửi, nó sẽ qua đi, không bao giờ đọng lại. Theo như lời dạy trong Kinh, nó không bao giờ xâm chiếm tâm trí và tồn tại. Điều đó có nghĩa là chúng ta không mang theo bên mình những gì chúng ta trải nghiệm trong ngày. Bạn không mang những gì đã xảy ra ở Pháp đường về liêu cốc của mình. Bạn thậm chí không mang nó ra tới cửa. Bạn nhìn toàn bộ thế giới năm giác quan này như thật, và điều đó mang lại kết quả tương đương với việc quán thân. Nó cho phép tâm trí được giải thoát khỏi tất cả những điều này, và khi thực hiện sự quán chiếu đó, người ta nhận ra rằng khi ngồi thiền, hay đi trên đường, tâm trí sẽ rời xa thế giới của năm giác quan.

Tất cả các bạn đều biết rằng trong Phật giáo có tiloka là ba thế giới gồm kāmaloka – Dục giới, rūpaloka – Sắc giới và arūpaloka – Vô sắc giới. Kāmaloka là thế giới của cơ thể và năm giác quan. Nó bao gồm các cõi địa ngục và 16 cõi ngạ quỷ. Nó bao trùm thế giới loài người và thú vật, và nó bao trùm thế giới chư thiên Dục Giới Deva 17. Đối với hầu hết chúng sinh, đó là tất cả những gì họ biết và tất cả những gì họ khao khát, chỉ là du hành đến những cấp độ cao hơn của kāmaloka – dục giới mà không bao giờ biết rằng có hai thế giới cao hơn nữa. Tại sao Đức Phật lại chia chúng ra như vậy? Bởi vì rūpaloka – Sắc giới, là thế giới của các tầng thiền jhāna rất khác với dục giới của năm giác quan và arūpaloka – Vô sắc giới cũng rất khác. Đó là một vũ trụ khác. Các loại ý thức ở 3 thế giới này là hoàn toàn khác nhau.

Có một khoảng cách rất lớn giữa 3 thế giới này và vì vậy để thực sự đến được những thế giới đó, chúng ta phải bỏ lại đằng sau mọi thứ chúng ta đã biết, hiểu và nghĩ tới. Đó là lý do tại sao suy nghĩ trở thành một trở ngại cho việc chúng ta chuyển từ thế giới này sang thế giới khác. Suy nghĩ là một chướng ngại cho việc đạt được định, là trạng thái có thể nhận biết những thế giới thiền đó. Tất cả những tư tưởng (dục giới) này đều là chướng ngại, không chỉ những tư tưởng phức tạp về thân và năm giác quan, mà còn cả sự dính mắc vào thân này và năm giác quan. Nếu bạn quán chiếu xem những tư tưởng là gì, ngay cả những tư tưởng mà bạn cho là Pháp, thì rất nhiều Pháp đó chỉ là những thứ trần tục. Chúng liên quan đến những ý tưởng, suy nghĩ và những cái tên, chúng thực sự là một phần của thế giới năm giác quan và thân. Ngay cả ngôn ngữ mà chúng ta sử dụng cũng được xây dựng từ những trải nghiệm trong dục giới kāmaloka này, và bởi vì chúng ta không chỉ dính mắc với dục giới mà còn với ngôn ngữ nên chúng ta không thể vượt ra ngoài ngôn ngữ đó. Đó là một trong những lý do tại sao chúng ta không thể đạt được con đường nhập thiền.

P.7

Từ bỏ tất cả lý thuyết (suy diễn) của bạn

Trong suốt quá trình thiền định, chúng ta thường say mê bình luận, suy luận. Chúng ta tin tưởng vào cái suy luận không ngôn ngữ ấy có thể giúp chúng ta đi sâu hơn. Nó thực sự ngăn cản chúng ta. Hãy cẩn thận với những suy nghĩ. Chúng ta cố gắng tìm hiểu xem mình đang ở đâu trong những giai đoạn thiền sâu hơn này, nhưng điều đó thực sự cản trở chúng ta. Đó là lý do tại sao tôi khuyến khích thực hành thiền mà không cần suy ngẫm vào giai đoạn đầu và giữa. Hãy để mọi sự suy ngẫm, quán chiếu vào những phút cuối cùng; khi người ta sắp thực hành thiền xong. Hãy dành những phút cuối cùng để suy ngẫm. Tôi được dạy trong khoa học rằng bất cứ khi nào thực hiện một thí nghiệm, người ta không nên đưa ra kết luận nào cho đến khi có tất cả dữ liệu và cho đến khi bạn đã xem tất cả các bài viết và bạn đã đặt tất cả các dấu chấm trên biểu đồ. Đừng ngoại suy cho đến lúc đó. Mới đọc một nửa số liệu rồi bạn suy luận, kết luận sẽ mang lại cho bạn biểu đồ đường cong hoặc đường thẳng đẹp mắt, sau đó bạn loại bỏ những dữ liệu không khớp hoặc làm giả tất cả các số liệu khác cho phù hợp. Bạn bẻ cong kết quả để phù hợp với lý thuyết của bạn. Rất nhiều kết quả thí nghiệm khoa học tồi và thực tiễn tồi tệ xảy ra theo cách đó. Bạn đang điều chỉnh kinh nghiệm của mình phù hợp với lý thuyết mà bạn nghĩ ra hơn là sẵn sàng từ bỏ tất cả lý thuyết của mình để chứng nghiệm thực tiễn của thiền.

Bạn cần phải từ bỏ rất nhiều. Việc thực hành định này rất mạnh mẽ vì nó đòi hỏi bạn phải từ bỏ. Nó kiểm tra sự sẵn lòng ‘từ bỏ’ của bạn. Nó kiểm tra kỹ năng 'buông bỏ' của bạn. Và bất kể quan điểm hay quan niệm của bạn là gì, ít nhất mọi người nên đồng ý rằng con đường Đạo Quả có bao gồm các tầng thiền. Lý do duy nhất khiến một người không thể nhập thiền là vì tâm phiền não, tham ái, upādāna, không thấy rõ, āsava 18 lậu hoặc, tâm tạo tác, hoặc vì tà kiến. Dù lý do là gì đi nữa, người ta biết rằng nếu không thể nhập thiền thì chắc chắn có vấn đề ở đó. Việc nhập vào thiền jhāna là một bài kiểm tra dành cho bạn, một bài kiểm tra xem điều gì thực sự đúng và thực sự sai, không phải thông qua suy nghĩ mà thông qua thực hành, xem điều gì thực sự có tác dụng.

P.8/15

Nếu chúng ta trải qua những thực hành này, chúng ta có thể quán thân, quán thọ (cảm giác) và quán tâm (tư tưởng), và chúng ta thấy rằng chúng chỉ là một kiểu dính mắc với thế giới này cách tinh tế. Tâm/suy nghĩ là như vậy. Chúng được tạo thành từ ngôn ngữ, dựa trên kinh nghiệm cũ của thọ nơi năm giác quan và thân. Khi chúng ta quán chiếu những điều này và thấy rõ chúng là gì, chúng ta có thể phát triển sự yểm ly, nhàm chán đối với chúng, đối với thân, năm giác quan và tâm/tư tưởng. Nếu bạn thực sự thấy nhàm chán yểm ly (nibbidā) thì giai đoạn tiếp theo sẽ là buông xả (virāga). Buông xả (Virāga) không chỉ có nghĩa là không có ham muốn, nó còn có nghĩa là sự thản nhiên, và bạn 0 còn niềm đam mê với bất cứ thứ gì, chúng đều biến mất. Nếu bạn mất đi niềm đam mê với một loại thực phẩm cụ thể nào đó, bạn sẽ không bỏ nó vào bát của mình nữa. Nếu bạn mất đi niềm đam mê với âm nhạc, bạn sẽ không nghe nó nữa. Nếu bạn mất đi niềm đam mê với đời sống tu viện, bạn sẽ xả y. Bình thản là một kiểu khác của phai nhạt, đó là cách dịch ưa thích của tôi đối với buông xả virāga.

Khi bạn có sự bình thản đối với thân, thọ (nơi năm giác quan) và tâm (suy nghĩ) – về cơ bản đó là sự vọng lại trong tâm (về sắc thanh hương vị xúc) của năm giác quan và thân – chúng có xu hướng biến mất. Thân sẽ có nhiều lúc không nằm trong ý thức của bạn trong khi bạn thực hành thiền, đang chú tâm vào đề mục thiền. Năm giác quan (sắc thanh hương vị xúc) có xu hướng biến mất vì bạn ít quan tâm đến chúng. Bạn không nhìn, nghe, ngửi, nếm và không cảm nhận cơ thể nhiều nữa. Thân có thể chăm sóc thân, mũi có thể chăm sóc mũi, lưỡi có thể chăm sóc lưỡi, tai có thể chăm sóc tai, mắt có thể chăm sóc mắt và tâm có thể buông thư. Khi những điều này tan biến trong quá trình thiền định của bạn, chúng cũng tan biến trong cuộc sống đời thường. Có nghĩa là mối quan tâm của bạn đối với những thứ xung quanh bắt đầu tan biến. Bạn không quá quan tâm đến các tòa nhà hay việc bạn đang ở Úc, Thái Lan hay New Zealand. Đó chỉ là thế giới bên ngoài. Bạn không quan tâm đến người khác hoặc các tu sĩ khác trừ khi đó là nhiệm vụ của bạn. Khi bạn đã không có tâm tìm lỗi đối với thế giới bên ngoài, vậy tại sao lại có tâm tìm lỗi đối với các tu sĩ khác, hoặc thức ăn, hoặc liêu cốc. Tại sao lại có tâm tìm kiếm lỗi lầm khi những điều đó chẳng liên quan gì đến bạn? Khi biết được như vậy, bạn sẽ thấy rằng đó chỉ là các tưởng (nhận thức) nhìn thấy những lỗi lầm đó mà thôi. Đó là khổ (19). Bạn mong đợi điều gì?

Tâm tìm lỗi chỉ đang tìm kiếm lỗi. Bạn biết rằng lỗi lầm luôn hiện diện nên không cần đi tìm. Những lỗi lầm có nghĩa là bạn không bao giờ có thể tìm thấy sự hoàn hảo. Bạn không bao giờ có thể tìm được hạnh phúc vĩnh viễn trong thế giới của thân, của năm giác quan, hay trong thế giới của tâm/tư tưởng. Vì vậy, với tâm tìm kiếm lỗi lầm đó, nếu tôi thấy ai đó và có lỗi lầm xuất hiện, tôi chỉ cần từ bỏ nó và phát triển sự nhàm chán yểm ly (nibbidā) đối với lỗi lầm đó. Trong những năm đầu làm tu sĩ, bạn có nhìn các tu sĩ khác và nghĩ: “Đó là một tu sĩ xấu, ông ta làm điều này, điều kia không đúng”? Sau một thời gian, bạn có quá nhiều sự nhàm chán yểm ly (nibbidā) đối với tất cả những suy nghĩ phê phán này và những lời chỉ trích về các tu sĩ khác đến nỗi nó dần biến mất. Bất cứ nhà sư nào khác làm hay dạy gì đều là việc của vị ấy, trừ khi vị ấy là đệ tử của tôi thì tôi cố gắng hết sức để hướng dẫn vị ấy. Anh ta có đáp lại hay không thì đó là vấn đề của anh ta. Tôi đã hoàn thành bổn phận của mình nên tôi chỉ buông bỏ, và qua sự buông bỏ đó mọi thứ sẽ biến mất.

P.9

Tôi luôn nhận thấy rằng càng tiến sâu vào thời kỳ tu thiền/tĩnh tâm, bạn càng thảnh thơi. Khóa tu càng kéo dài; thì tôi càng ít phải làm Tu viện trưởng hơn và sống ẩn dật hơn. Khi một người đạt được trạng thái định sâu, người ta không còn quan tâm đến tu viện, Hội Phật giáo hay các tu sĩ khác. Mọi thứ biến mất, mờ nhạt và đó là lúc bạn buông bỏ thế giới của thọ (năm giác quan), thế giới của thân và thế giới của tâm. Khi bạn tập trung theo dõi hơi thở, mọi thứ khác đều biến mất. Thiền hơi thở rất dễ dàng. Tại sao? Bởi vì không có gì khác làm phiền bạn. Bạn không nghĩ về cuộc trò chuyện cách đây vài phút, đặc biệt là khi bạn đang trong khóa tu thiền. Bạn không nghĩ về thức ăn bạn có hoặc không có trong bát của mình. Bạn không suy nghĩ về thời tiết, âm thanh, nóng lạnh, hay về thời gian, đó chỉ là chuyện thế tục.

Chúng ta chỉ theo dõi hơi thở và những mối quan tâm khác sẽ không đến làm phiền chúng ta. Quá nhiều người có những bình luận, suy nghĩ về những gì họ phải làm trong khi đang hành thiền. "Điều đó có nghĩa là gì? Tôi nên làm gì tiếp theo? Tôi nên làm theo cách này hay cách kia? Thiền sư này đã nói gì? Anh ấy đúng; người kia sai rồi, blah, blah, blah.” Hãy buông bỏ tất cả những suy nghĩ đang diễn ra trong tâm và chỉ quan sát hơi thở. Tôi bảo đảm nếu đó là tất cả những gì bạn làm, nếu bạn chỉ quan sát hơi thở và không làm gì khác, hơi thở sẽ trở nên rất tĩnh lặng và rất đẹp. Đó là bản chất của nó.

Vẻ đẹp của hơi thở đó là hỷ đang đến, yên bình (khinh an) đang đến và lạc đang đến. Bạn đang bắt đầu quá trình. Một điều gì đó xảy ra, thế thôi. Một khi bạn bắt đầu hít vào hơi thở đẹp, hãy để nó yên đó, đừng làm gì cả. Đừng bắt đầu suy nghĩ hay phân tích, hãy để quá trình diễn ra. Hãy nhấn cái nút buông xả. Nếu bạn có thể nhấn nút buông xả đó, sau một lúc, toàn bộ quá trình sẽ tiếp tục. Nếu nó không tiếp tục, nếu bạn đang nắm giữ cái tâm tạo tác, tâm kiểm soát, cái tâm 'tôi' và 'của tôi', thiền định của tôi, ý tưởng của tôi, thân tôi, tâm/suy nghĩ của tôi, thọ/giác quan của tôi, chúng ngăn cản bạn nhập vào tầng thiền jhāna.

P.10

Mối quan tâm đến kāmaloka – dục giới, thế giới của năm giác quan, thế giới của thân, thân của người khác, về liêu cốc 20, chữ nghĩa, âm thanh và ý tưởng, tất cả đều là việc của kāmaloka dục giới. Vì vậy, chỉ cần theo dõi hơi thở, và nếu có bất kỳ chướng ngại nào xuất hiện, hãy biết chúng là chướng ngại, biết chúng là những mối nguy hiểm. Chúng ngăn bạn tiến đến giải thoát!

Bạn không thể tin tưởng

Nếu bạn chưa biết những nguy hiểm, bạn muốn lãng phí bao nhiêu thời gian cho tất cả những điều này? Bạn lãng phí bao nhiêu thời gian cho thân này và cho thọ/ năm giác quan này? Lo lắng và phàn nàn về hình ảnh, âm thanh, mùi, vị và xúc giác, quan tâm đến chúng, dành hàng giờ, hàng ngày, cả cuộc đời để cố gắng có được hương vị dễ chịu, sự tiếp xúc dễ chịu, cố gắng chỉ nghe những gì bạn muốn nghe. Tất cả những nỗ lực này trong đời! Chúng đưa bạn đến đâu? Hãy từ bỏ hoàn toàn các sự thế tục. Hãy nhìn thấy sự nguy hiểm của nó và nhớ rằng một số mối nguy hiểm có thể rất tinh vi khó nhận thấy. Chúng giống như những kẻ lừa đảo. Chúng có thể giả danh để bạn nghĩ đó là Pháp. Bạn nghĩ bạn nên làm theo nó. Điều này quan trọng, hãy cẩn thận vì đó là thủ đoạn cuối cùng của Māra.

Nếu việc tìm lỗi khởi lên trong tâm, không cho phép bạn buông xả và giải thoát, hãy nhìn thấu điều đó. Hãy nói: “Māra, ta biết mi!” Nếu bạn thực sự có thể nhìn thấy nó thì bạn chỉ cần quay trở lại với hơi thở, và thế là vấn đề kết thúc. Và tiến trình thiền sẽ xảy ra. Khi điều đó xảy ra thật tuyệt vời. Điều đó sớm hay muộn sẽ đến với mỗi người trong các bạn, và khi đó các bạn sẽ thấy rằng điều đó luôn luôn có thể xảy ra. Chính bạn luôn là người giữ quá trình thiền ấy kéo dài. Bạn là vấn đề, 'tôi', 'của tôi', 'người tạo tác', 'người suy nghĩ', 'người kiểm soát', 'người tranh luận', 'người tìm lỗi', 'người xây dựng' và bất cứ điều gì khác bạn làm. Dừng lại đi! Chỉ cần một kinh nghiệm về nhập thiền jhāna và sự quán chiếu sau đó, bạn sẽ hiểu tại sao quá trình này xảy ra. Khi vượt qua được rồi, bạn sẽ hiểu tại sao đó là một quá trình tự nhiên. Điều này sẽ mang đến cho bạn cơ hội lớn hơn để nhập thiền lần sau, nó cũng sẽ mang lại cho bạn những tuệ/hiểu biết sâu sắc. Đây là những tuệ/hiểu biết sâu sắc dựa trên sự chứng nghiệm, không phải là suy nghĩ. Chúng không dựa trên những thành tựu chứng đắc của người khác, không dựa trên những gì bạn đã đọc hay nghe từ các vị tôn sư, từ tôi, hay từ những gì bạn đọc trong kinh.

P.11

Ai cũng biết rằng khi nghe một cuộc nói chuyện, bạn chỉ nghe những gì bạn muốn nghe. Những gì không muốn nghe thì bạn lọc ra. Đôi khi nó thậm chí không đi vào ý thức. Khi bạn nhìn thấy những gì không muốn thấy, bạn thậm chí không nhận ra nó, nó không được ghi nhận. Tại tang lễ của Ajahn Chah, rất nhiều tu sĩ có mặt ở đó đã nói về những điều Ajahn Chah đã dạy, và mỗi tu sĩ đều có quan điểm riêng về lời dạy của Thầy. Thật là thú vị khi thấy điều đó. Chính Ajahn Jagaro là người đã ‘đóng đinh vào đầu’ khi nói: “Đúng vậy, mọi người đều có Ajahn Chah của riêng mình”. Thật ngạc nhiên là các bạn lắng nghe cùng một bài nói chuyện nhưng lại nghe được những điều khác nhau. Bạn sẽ thấy và nghe thấy hai Ajahn Chah khác nhau. Tưởng/Nhận thức là như vậy. Một trong những điều tuyệt vời trong lời dạy của Đức Phật là về vipallāsas 22 (nhận thức sai lầm, điên đảo), nó cho thấy rằng mọi giác quan, cảm nhận của bạn đã bị ô nhiễm bẻ cong.

Bạn không nghe thấy những gì được nói, bạn nghe những gì muốn nghe, nhìn những gì bạn muốn thấy và trải nghiệm những gì bạn muốn trải nghiệm. Dù có khả năng nào đi chăng nữa, bạn thực sự tìm kiếm những gì phù hợp với quan điểm, khao khát, mong muốn, cảm xúc và sở thích của bạn để biện minh cho chúng. Khi tôi lần đầu tiên nhìn thấy nó, nó thật choáng váng và đáng sợ. Làm sao bạn có thể tin vào những gì bạn đã thấy hoặc đã nghe? Làm sao bạn có thể tin tưởng những gì bạn đọc, nếm, ngửi hoặc cảm nhận trong cơ thể? Vấn đề là bạn không thể. Bạn không thể tin tưởng bất cứ điều gì trong số đó. Ngay cả những gì bạn nhìn thấy về tâm và những gì tâm nghĩ, bạn thậm chí không thể tin vào điều đó, bởi vì bạn không thể nhìn thấy bàn tay ẩn giấu của phiền não đang hoạt động. Đó chính là ảo tưởng, đó là vô minh avijjā (23), hay si mê moha (24). Mọi người đều cho rằng họ đúng vì họ không thể thấy điên đảo, nhận thức sai lầm (vipallāsas) hoạt động, đó là lý do tại sao có những tranh cãi trên thế giới. Nó được gọi là tự phụ. Cách duy nhất để vượt qua những vipallāsas đó thực sự là đắc các tầng thiền jhāna.

Các nhận thức sai lầm điên đảo vipallāsas dựa trên các chướng ngại, phiền não, tham dục, sân hận và quan điểm. Chỉ khi những điều đó tạm thời được khắc phục thì bạn mới có thể vượt qua được vipallāsas. Sau khi (mới) xuất khỏi thiền bạn không còn quan điểm, ham muốn, sân hận hay sợ hãi. Những trạng thái thiền jhāna mang lại cho bạn sức mạnh đó và chúng mang lại cho bạn sự dũng cảm. Khi còn là một tu sĩ trẻ, tôi nhớ thầy của tôi, upajjhāya (thầy) Somdet Buddhajahn của tôi, đã thực hành thiền định ở miền nam Thái Lan, với một tu sĩ rất nổi tiếng trong khu vực vào thời điểm đó. Anh ấy đã nói với tôi rằng anh ngồi thiền trong một nghĩa địa, và khi xuất thiền, anh ấy cảm thấy có gì đó trên chân mình. Đó là một con rắn lớn.

P.12

Điều đáng kinh ngạc là khi  mở mắt nhìn thấy con rắn này và nhận ra nó rất độc, anh không thấy sợ hãi chút nào và thực tế là tâm anh rất bình yên. Sự vô úy chỉ là một trong những kết quả của định, và sự vô úy đó không chỉ là đối với thú rừng, sự vô úy đó về cơ bản là vì bạn đã từ bỏ sự quan tâm đến thân. Và sự không quan tâm đến thân hoặc thân của người khác vẫn còn tồn tại trong một thời gian dài (sau khi xuất định).

Sự bình thản không quan tâm do vô úy (không sợ hãi) và không ham muốn, cho bạn cơ hội nhìn thấy những gì bạn không muốn thấy. Bạn có thể trải nghiệm những điều mà bạn chưa bao giờ muốn trải nghiệm. Cơ chế phủ nhận của tâm trí không hoạt động. Mọi phiền não tạm thời bị lắng dịu để bạn có cơ hội nhìn ra bên ngoài xa hơn những phiền não đó. Đó là lúc trí tuệ phát sinh, không phải qua suy nghĩ, suy đoán, nghe hay đọc. Một khi đã đạt đến đó thì người ta có được cái nhìn rõ ràng, thoát khỏi những chướng ngại và phiền não, và thoát khỏi những nhận thức sai lầm điên đảo vipallāsas. Bạn có cơ hội để nhìn xem thân và tâm này là gì. Chỉ ở thời điểm sau thiền jhāna, với sự yên tĩnh, trong sáng và sức mạnh lúc bấy giờ, tất cả những tranh luận mới kết thúc. Đó là nơi nảy sinh tất cả những tuệ/hiểu biết sâu sắc, đó là nơi bắt nguồn của tự do. Đó là nơi mọi người được tự do và có cảm giác giải thoát, nhẹ nhàng.

Kết quả của việc thực sự thấy Pháp là sự giải thoát của tâm và thân, sự buông xả, sự giải thoát và cởi trói khỏi mọi sự. Vì thế hãy kiểm tra các tu sĩ và các vị thầy mà bạn biết, hãy kiểm tra xem họ có được sự giải thoát đó không. Nếu bạn thấy vị sư đang tức giận hay có tham ái, thì danh tiếng của họ ra sao không quan trọng, dù họ nói họ là đấng Giác ngộ hay là gì đi nữa, các vị tu sĩ giác ngộ không nổi giận. Dosa, sân hận, là một phiền não. Vì vậy, hãy kiểm tra họ và kiểm tra chính bản thân bạn, hãy khiêm tốn một chút. Nếu một người chưa đạt đến các tầng thiền, đừng nghĩ rằng bạn đã biết. Hãy ghi lại tất cả các quan điểm và ý tưởng, cứ để chúng ở đó và xem điều gì sẽ xảy ra khi bạn quán chiếu sau khi xuất thiền.

P.13

Conclusion

Phần kết luận

Vì thế đây là điều chúng ta cần làm trong khóa thực hành này để tránh những chướng ngại. Đây không phải là nơi để tranh luận hay để lấp đầy tâm trí với quá nhiều kiến ​​thức. Chỉ cần có đủ kiến ​​thức về những gì bạn cần làm. Con đường tu tiến rất rõ ràng. Đó là con đường Bát Thánh Đạo và đạt đến đỉnh cao trong định, trong các tầng thiền jhāna. Điều đó dẫn đến yếu tố thứ chín và thứ mười của con đường, sammā vimutti (Chánh Giải Thoát), sự giải thoát và tự do thuần khiết, và sammā vimutti ñana (tuệ Chánh Giải Thoát), sự hiểu biết rằng bạn đã giải thoát. Hai yếu tố cuối cùng thứ chín và thứ mười này là Thánh Quả. Vì vậy hãy thực sự đi theo con đường này. Hãy coi định là điều chính yếu trong tu viện này. Dù bạn làm gì trong tu viện này, hãy xem điều đó có hỗ trợ cho định không. Nếu hỗ trợ cho định thì hãy làm, nếu nó cản trở định thì hãy để yên một thời gian. Để định có thể phát triển, bạn hãy tìm hiểu những trở ngại là gì. Hãy tìm hiểu tại sao con đường đắc thiền không xảy ra. Bạn đang làm gì ? Bạn đang chần chừ điều gì? Nếu điều đó ở nơi thân, thọ (năm giác quan), hay tâm/ ý nghĩ, hãy quán chiếu chúng theo cách bạn muốn, nhưng quán chiếu chúng với mục đích giải thoát tâm trí khỏi những thứ đó. Hãy giải phóng mọi mối quan tâm đến những điều đó. Khi việc thực hành thiền định của bạn đang hoạt động hiệu quả thì những điều này không còn khiến bạn bận tâm nhiều nữa.

When these things stop bothering you, then the path towards jhānas is clear. So please liberate yourself from these obstacles. May you all obtain jhāna on this retreat. You all have the ability to do so, so stop messing around, and see if you can get the jhānas and the liberation that comes from them. Don’t linger on this side of jhānas. If something has to be done, please do it.

Khi những điều này không còn làm phiền bạn nữa thì con đường hướng tới đắc thiền jhāna sẽ rõ ràng. Vì vậy hãy giải thoát bản thân khỏi những trở ngại này. Cầu mong tất cả các bạn đạt được thiền jhāna trong khóa tu này. Tất cả các bạn đều có khả năng làm được điều đó, vì vậy hãy dừng các việc lăng xăng rối ren lại và xem liệu bạn có thể đạt được thiền jhāna và sự giải thoát hay không. Đừng nấn ná ở bên ngoài thiền jhāna. Nếu có việc gì cần phải làm thì hãy làm.

1. Bát chánh đạo: 1. Chánh kiến ​​hay hiểu biết đúng đắn. 2. Suy nghĩ hay ý định đúng đắn. 3. Chánh Ngữ. 4. Chánh Nghiệp - Hành Động Đúng. 5. Chánh Mạng - Sinh kế đúng đắn. 6. Chánh Tinh Tấn. 7. Chánh niệm. 8. Chánh Định, tức là jhāna. 2 Pháp: Lời dạy của Đức Phật; Sự Thật; Chuẩn mực. 3 Anagārika: Hành giả, nghĩa đen: “Người vô gia cư”. Trong các Tu viện Nguyên thủy phương Tây, điều này được hiểu là một người giữ tám giới và đang được đào tạo để xuất gia làm sa di. 4 Nibbidā: Yểm ly, hay chán ghét (đặc biệt là) vòng sinh tử luân hồi. Đây là kết quả của tuệ giác sâu sắc và không liên quan gì đến các trạng thái bất thiện. 5 Ariya: Bậc Thánh, người đã đạt đến một trong bốn giai đoạn giác ngộ. 6 Sutta: Bài giảng của Đức Phật, hoặc một trong những đệ tử chính của Ngài, được ghi trong Kinh điển Pāli.

P.14

7 Khandha - Uẩn – các nhóm: 5 nhóm mà Đức Phật đã tóm tắt có trong các chúng sinh các cõi. 1. thân, rūpa; 2. thọ, vedanā; 3. tưởng, saññā; 4. hành, sankhāras; 5. và thức, viññāna. 8 Samādhi: định - Duy trì sự chú ý vào một vật. 9 Asubha: Không đẹp, bất mỹ, bất tịnh. Quán 32 phần uế trược của thân. 10 Jhāna: Các tầng thiền. 11 Vimokkha: Tự do thực sự, là biểu tượng cho sự giác ngộ viên mãn. 12 Kruba Ajahn: Tôn sư, thiền sư trong ‘Truyền thống Rừng’ Thái Lan. 13 Pītisukha: hỷ lạc có từ sự buông bỏ. là 2 chi của  hai tầng thiền đầu tiên.

14 Nibbāna: Nghĩa đen; “Sự tuyệt diệt” (như khi ngọn lửa tắt). Mục tiêu tối thượng của người Phật tử – đó là tiêu diệt tham, sân, si – nhờ đó chấm dứt mọi đau khổ. 15 Vedanā: cảm thọ  – qua thị giác, thính giác, khứu giác, vị giác, xúc giác hay tâm trí – gồm dễ chịu, khó chịu hoặc trung tính. Từ “cảm giác” trong tiếng Anh không nói hết nghĩa của vedana . 16 Peta: chúng sinh phiền não, ‘ngạ quỷ’. 17 Deva: Nghĩa đen: 'người tỏa sáng', tức là thần, vị thiên (dục giới). 18 Āsava: Nghĩa đen: “sự rỉ ra”, lậu hoặc nơi tâm trí. Thường được phân thành ba loại: 1. kāmāsava (dục lậu, khao khát dục lạc). 2. bhavāsava (hữu lậu, khao khát tái sinh nơi các cõi). 3. avijjāsava (vô minh lậu).

 

 

 

 

 

19 Dukkha: Đau khổ và bất toại nguyện. 20 Kuti: Liêu cốc, chỗ ở của chư Tăng. 21 Māra: Nghĩa đen, ‘kẻ giết người’; thường được gọi là ‘Ác ma’, là một nhân vật cám dỗ luôn tìm cách trói buộc chúng sinh vào vòng tái sinh. 22 Vipallāsa: Sự điên đảo, nhận thức sai lầm – coi những gì vô thường >> thường còn; coi khổ >> hạnh phúc; vô ngã >> là cái tôi; và không đẹp (asubha) >> đẹp (méo mó nhận thức). 23 Avijjā: Vô minh về Tứ Diệu Đế. Tứ Diệu Đế là Sự thật về: 1. Đau khổ 2. Nguyên nhân của đau khổ 3. Sự chấm dứt đau khổ 4. Con đường dẫn đến sự chấm dứt đau khổ 24 Moha: Si mê. Đồng nghĩa với vô minh avijjā.

P.15

Comments

Popular posts from this blog