Samatha Meditation -
Thiền Samatha
Ajahn Brahm
Ajahn Brahmavamso là vị Tỳ Kheo trưởng lão tại Tu viện
Bodhinyana ở Tây Úc. Đoạn văn sau đây được trích từ một bài nói chuyện vào trước
buổi thiền suốt đêm, trong thời gian đó các thiền sinh có cơ hội phát triển và
học hỏi về định.
Thiền Chỉ Samatha là làm dịu tâm trí, làm dịu các hoạt động
của thân, làm dịu lời nói và làm dịu các hoạt động của tâm. Thật thú vị khi nhận
thấy rằng khi nhập thất, người ta hay tìm kiếm hoạt động, làm một cái gì đó:
khi ngồi thiền người ta tìm việc để làm, tìm việc để lấp đầy tâm, thay vì chỉ
yên bình và tĩnh lặng.
Rất dễ để nhận thấy rằng nếu tâm trí ta suy nghĩ theo cách
nào thì thân ta sẽ hành động tương ứng. Đây là một suy ngẫm rất hữu ích, nghĩa
là có nhiều cách để làm tâm tĩnh lặng. Ngoài việc làm dịu tâm bằng phương pháp thiền
định chính thức, người ta có thể thực hành thiền chỉ samatha bằng cách kiềm chế
lời nói và hành động trong cuộc sống hàng ngày của mình. Nếu ta có thể kiềm chế
bản thân trong những tình huống - dù là khi lau chùi, tắm rửa, đi bộ, đến và đi
- thì khi chuyển sang ngồi kiết già trên đệm thiền, việc kiềm chế các hoạt động
của tâm sẽ dễ dàng hơn nhiều.
Để phát triển thiền định samatha, trước hết hãy nắm giữ hơi
thở - để bạn có thể nhìn thấy hơi thở. Để làm được điều này bạn phải hạn chế những
hoạt động khác, những điều xuất hiện trong tâm khiến bạn xao lãng rời xa đề mục
thiền – đó có thể là suy nghĩ hay dự định, hay cảm giác đau nhức trong cơ thể,
bạn đều phải kiềm chế tâm mình không hướng về những điều đó mà phải an trụ với
hơi thở. Một khi bạn có thể nhìn thấy hơi thở một cách rõ ràng, bạn có thể thực
sự làm nó tĩnh lặng và tìm ra những nỗ lực phù hợp làm cho hơi thở êm dịu, nhẹ
nhàng và tâm được bình yên. Đây là thực hành đầu tiên trong thiền hơi thở
anapanasati.
Bạn có thể nhận thấy rằng bất cứ khi nào tâm bình tĩnh, cơ
thể sẽ không có nhiều rắc rối. Nếu bạn có thể nhanh chóng đạt được trạng thái
tâm tĩnh lặng khi vừa mới bắt đầu ngồi thiền - trong khi cơ thể đang thoải mái,
trước khi đầu gối và lưng bắt đầu đau nhức - thì cơ thể sẽ không làm phiền bạn trong
suốt thời gian thiền còn lại. Vì vậy, trước hết hãy làm cho thân tĩnh lặng, rồi
đi đến hơi thở và nắm bắt lấy hơi thở ở bất cứ đâu. Không quan trọng hơi thở ở
đâu - cảm giác hơi thở ở đâu - dù hơi thở ở đâu, hãy nhìn thấy nó ở đó và nắm bắt
nó và đừng để nó biến mất.
Đây là một nỗ lực - là đạt được hoặc hướng tới một điều gì
đó, làm một điều gì đó, thay vì buông bỏ quá nhanh và không làm gì cả - thay vì
chỉ nhìn tâm lang thang đây đó khắp nơi; đó thực sự không phải là mục đích của
việc thực hành thiền. Làm cho tâm tĩnh lặng trước đã là điều kiện tiên quyết để
trí tuệ phát sinh.
Có một bài kinh là phần mở rộng của Paticcasamuppada (Lý
Duyên Khởi). Kinh này mở rộng những gì xảy ra đàng sau sự khổ chứ không dừng lại
ở khổ. Theo bài kinh này, dukkha (khổ) là nguyên nhân của sự phát sinh lòng
tin, sự phát sinh niềm tin vào giáo lý - Bát Chánh Đạo và Tứ Diệu Đế. Một khi
người ta thấy được khổ thì người ta nhận ra rằng có điều gì đó cần phải làm. Tôi
nhận thấy rằng chỉ với việc dạy Chánh Pháp thì người ta sẽ không tu học thực
hành. Họ không làm gì cả, bởi vì họ không thấy bất kỳ khổ đau nào - hay nói
đúng hơn là họ không nhận ra khổ trong cuộc sống của mình. Họ không nhìn thấy
đau khổ hay nguyên nhân của đau khổ - là nơi bắt nguồn đau khổ - và do đó họ
không bao giờ làm bất cứ điều gì.
Vì thế rõ ràng dukkha – khổ chính là nguyên nhân khiến người
ta tự khơi dậy và nói: 'Được rồi, tôi sẽ làm gì đó để giải quyết vấn đề
này!' Người ta sẽ tự tin nói rằng: 'Tôi
sẽ không chạy vòng quanh, đi đến nơi này nơi kia, tìm kiếm thầy này thầy kia,
làm chuyện này chuyện kia - vấn đề đang nằm chính ngay đây. Tôi sẽ ở lại đây và
giải quyết nó!' Khi thấy được đường dẫn ấy, thì đó là sự khởi đầu để bắt tay giải
quyết những vấn đề trong kiếp sống con người. Đó chính là nhận ra khổ, nhận biết
khổ đến từ đâu và làm gì đó để giải quyết khổ.
Một khi người ta có niềm tin cơ bản đó, có sự tự tin để dừng
lại, ở yên một chỗ và đối mặt với vấn đề, thì bước tiếp theo là xuất hiện niềm
vui. Niềm vui này đến từ việc hiểu rằng đây là vấn đề và đây là cách thoát khỏi
nó; bạn có thể làm được. Niềm vui làm nảy sinh hoan hỷ (piti), thực sự muốn
trong tâm mình làm điều gì đó, và điều này tiếp thêm năng lượng cho việc thực
hành thiền.
Rồi an lạc hạnh phúc (sukha) sẽ đến. Khi bạn thực sự bắt đầu
tu tập, bạn sẽ cảm thấy an lạc nơi thân, nhờ vào việc kiềm chế không làm tất cả
những điều gây ra đau khổ. Điều này khiến ta an lạc hạnh phúc. Đây là lúc phát
sinh những yếu tố siêu việt (định), bởi vì an lạc - sukha là nguyên nhân cho sự
phát sinh của định samadhi. Nếu một người không có an lạc hạnh phúc thì có rất
ít cơ hội để định phát sinh. Nếu một người đang cảm thấy khó khăn gian khổ - lúc
không hạnh phúc - và tâm trí đóng lại thì không có cách nào để định phát sinh
được. Samadhi chỉ có thể đến từ nền tảng
của an lạc hạnh phúc. Lúc này thì những bài giảng Pháp mới thực sự hữu ích -
chúng có thể truyền cảm hứng cho bạn và mang lại cho bạn sự quan tâm đến thiền,
và từ đó bạn có thể đạt được định và tự mình chứng nghiệm.
Bước tiếp theo của định là (khả năng) nhìn sự vật như đúng bản
chất của chúng. Yếu tố này đến sau định, không phải trước định; nó không phải
là nguyên nhân mà là kết quả của định. Cách duy nhất để bạn có thể thấy điều gì
đang diễn ra là khi tâm trí tĩnh lặng và tập trung. Lý do mà người ta không thể
nhìn sự vật đúng như thật là do không có tâm tĩnh lặng trong sáng, do tâm chịu ảnh
hưởng của các phiền não - tham, sân và si. Những phiền não này làm sai lệch nhận
thức của chúng ta. Tất cả các bạn đều biết rằng khi chúng ta tức giận, thì nó
làm sai lệch nhận thức của chúng ta về một người hoặc một địa điểm. Nếu chúng
ta tức giận, tu viện này là nơi cuối cùng chúng ta muốn đến. Rồi ngày hôm sau,
khi chúng ta vui vẻ hạnh phúc và mặt trời chiếu sáng, ta lại thấy đó là một nơi
tuyệt vời! Cũng là tu viện này, nhưng phiền não làm méo mó nhận thức của chúng
ta - dục vọng bóp méo nhận thức của chúng ta. Khi một người không nhìn thấy rõ
ràng, làm sao người ta có thể nhìn thấy mọi thứ đúng như thật? làm sao người ta
có thể hiểu được điều gì đang xảy ra? Avijja [vô minh] bóp méo nhận thức. Vì vậy,
để nhìn thấy mọi thứ đúng như thật, người ta phải làm sạch khỏi tâm trí những
thứ làm méo mó nhận thức - dù chỉ trong một thời gian ngắn. Trong thời gian ngắn
ngủi đó, người ta có thể thấy mọi việc thực sự diễn ra như thế nào.
Tôi luôn cảm thấy rằng ý tưởng về thiền minh sát có thể là một
ý tưởng sai lầm. Thông thường, người ta hay có thói quen, xu hướng cho rằng thiền
chỉ samatha là 'nguy hiểm', bởi vì bạn có thể dính mắc trong các tầng thiền
jhanas. Nhưng có bao nhiêu người đã đạt được jhana? - chứ đừng nói đến việc
dính mắc vào thiền. Ít nhất nếu bạn có định jhana, bạn rất bình an và an lạc, bạn
biết có một nơi; ở đó các phiền não đã tạm thời lắng xuống. Ít nhất bạn đang đi
tới 1 nơi nào đó, bạn đang làm điều gì đó. Ngoài ra, bản chất của thiền định
jhana - của tâm tĩnh lặng - là sau khi một người xuất thiền, tâm sẽ trong sáng
và chín trong số mười tuệ sẽ khởi sinh. Cũng có nguy cơ là bạn có thể bị dính mắc
vào các tầng thiền jhana, nhưng nguy hiểm đó không nhiều.
Thật ra mối nguy hiểm đối với người phương Tây là ở
vipassana, bởi vì bạn có thể hiểu được những khái niệm về vipassana từ việc đọc
một cuốn sách. Bạn có thể đọc được một ý tưởng và ngay lập tức bạn nghĩ, 'Bây
giờ tôi đã hiểu rồi.' Đây chính là chỗ người ta bị dính mắc. Bạn nghĩ, 'Mọi việc
là thế này đây. Tôi đã thấy mọi thứ diễn ra như thế nào' - khi tâm chưa đủ sáng
suốt để vượt qua các phiền não. Si mê ngự trị nơi bạn cả ngày, và các phiền não
lại giam giữ bạn. Vipassana xuất phát từ một tâm trí trong sáng, tĩnh lặng,
không thể phát sinh từ tâm bị phiền não ngự trị. Đó là sự nguy hiểm của
vipassana. Vì vậy, việc bị mắc kẹt trong một tà kiến thì nguy hiểm hơn là việc
dính mắc vào việc tận hưởng an lạc trong thiền jhana. Nếu một người đang thực
hành thiền chỉ samatha, ít nhất người ta biết họ có đắc thiền hay chưa. Người
ta có thể nói rất rõ ràng, rất dễ dàng rằng tâm họ có tĩnh lặng hay không. Còn
với vipassana, rất khó biết được có đúng là tuệ giác khởi lên trong tâm bạn hay
không - liệu bạn có thực sự đang nhìn mọi thứ đúng như thật không, hay bạn đang
tự lừa dối mình. Đó là mối nguy hiểm lớn nhất của si mê - si mê là mê lầm! Nó
đánh lừa bạn.
Vì vậy, người ta thực hành: trau dồi hạnh phúc, trau dồi định
samadhi, trau dồi cách nhìn nhận sự vật – đây là tuệ giác cơ bản. Bạn sẽ biết
liệu đó có phải là tuệ giác hay không, liệu nó có làm phát khởi lòng nhàm chán/yểm
ly hay không. Bạn có thể tự hỏi liệu mình có còn tức giận, cáu kỉnh hay không;
nếu bạn vẫn còn ham muốn và tham lam, và thực sự muốn nhiều thứ - như là thành tựu cá nhân, hay danh tiếng
trong tu viện vì là một thiền giả vĩ đại, một đầu bếp giỏi nhất… nếu đây là những điều bạn thực sự mong muốn
thì bạn vẫn chưa thực sự nhìn thấy mọi thứ diễn ra như thật. Nếu thực sự là tuệ
giác thì nó sẽ tạo ra sự nhàm chán (nibbida) trong tâm.
Nibbida làm phát sinh một hình thức nhàm chán mãnh liệt hơn,
được gọi là viraga. Raga có nghĩa là ham muốn, thứ gắn kết bạn với những điều thế
tục, hoặc những điều nơi tâm: viraga là việc từ bỏ ham muốn đó, những sự vui
thích với những thứ trong tâm, hoặc những điều thế tục. Bước tiếp theo tiến lên
từ đó là tự do, vimutti - giải thoát. Đó thực ra không phải là bước cuối cùng.
Điều thú vị là, bước cuối cùng sau vimutti là nhận thức rằng mình đã được giải
thoát - không phải là sự băn khoăn về việc liệu mình có giác ngộ hay không, mà
là biết rõ ràng trạng thái tâm của bạn. Trong kinh, các tu sĩ không nói, 'Ồ... ừm.
. . vâng... .tôi nghĩ là tôi đã giác ngộ rồi'! Các vị Sư đã giác ngộ chỉ nói
như vầy, Đức Phật chỉ dạy như vầy: ‘Không còn tái sinh nữa, không còn việc gì
phải làm nữa.’
Vì vậy, thực tế là người ta cần phải làm gì đó. Người ta cần
phải nỗ lực tu học thực hành - để làm cho tâm tĩnh lặng: trong cuộc sống hàng
ngày cũng như khi ngồi thiền. Nếu bạn cố gắng mà tâm không trở nên tĩnh lặng ngay
lập tức, đó là vì bạn đã nỗ lực chưa đúng chỗ. Người ta nói rằng đôi khi họ đã
cố gắng làm cho tâm tĩnh lặng để nó bình yên, nhưng không hiệu quả - thật ra có
cách để làm tâm tĩnh lặng. Chỉ vì một người làm sai - không biết cách làm tâm
tĩnh lặng - không có nghĩa là không thể làm được. Người ta có thể tĩnh tâm lại,
nhưng để có thể làm được điều đó bạn phải biết khi nào nên nỗ lực đẩy và khi
nào nên kéo; nếu bạn chỉ đẩy và không kéo thì không hiệu quả. Bạn phải biết trạng
thái tâm trí của mình cũng như những gì bạn đang làm. Bạn phải biết cần nắm giữ
hơi thở đến mức nào - biết khi nào bạn đang giữ hơi thở quá chặt đến mức trở
nên mệt mỏi và căng thẳng. Nếu bạn thấy mình không thể tĩnh lặng, hãy tìm hiểu
lý do tại sao.
Một trong những nguyên nhân có thể là do bạn chưa đầu tư đủ
thời gian, công sức. Một ngày có bao nhiêu giờ, và chúng ta dành bao nhiêu giờ
trong ngày để ngồi quan sát hơi thở?
Người ta có thể ngồi (tập thiền), nhưng người ta có thường
xuyên theo dõi hơi thở không? Khá dễ dàng để nhận ra lý do, mặc dù việc thừa nhận
đó có thể không phải là một điều đặc biệt hay ho gì - nhưng đúng là như vậy. Vì
vậy, người ta cố gắng yên lặng trong ngày và trong tâm trí - để làm dịu hoạt động
bên ngoài cũng như hoạt động bên trong, để được sự an tịnh.
Để thực sự thực hành samatha - để thành công trong thiền định
- bạn không chỉ cần nỗ lực mà còn cần có chánh kiến, một chút trí tuệ /panna. Chính
tuệ panna dạy sự tĩnh lặng, và sự tĩnh lặng dạy tuệ panna. Cả hai đi cùng nhau,
như những người bạn tay trong tay cùng đi chung một con đường. Quả thực, bạn
không thể chỉ thực hành samatha bằng nỗ lực của ý chí; bạn phải biết ý chí đó sẽ
được hướng tới đâu. Nếu bạn chỉ đạo ý chí một cách bừa bãi thì nó không đủ mạnh
- nó không bao giờ duy trì đủ lâu để có bất kỳ tác dụng nào. Ý chí cần được dẫn
dắt thông qua tuệ panna, biết đúng nơi để
thúc đẩy - bao nhiêu, trong bao lâu và ở đâu.
Vì vậy, nói rằng tu học thực hành chỉ là chánh niệm là sai lầm:
tu học thực hành phải là toàn bộ Bát Thánh Đạo. Đôi khi ngày nay, người ta cho
rằng định có mối quan hệ mờ nhạt, yếu ớt đối với Bát Thánh Đạo. Đó là lý do tại
sao tôi nhấn mạnh nó ở đây. Những chi phần khác (trong 8 Thánh Đạo) có thể đã
được đánh giá quá cao. Vì vậy, sẽ rất tốt khi thành thật với chính mình và tự hỏi
điều gì đang xảy ra: tâm mình tĩnh lặng hay ồn ào? Khi bạn đang nghe một cuộc
nói chuyện (hay 1 bài pháp), bạn có thể im lặng trong tâm, bạn có thể an tịnh
được không? Bạn có thể lắng nghe lời nói mà không tranh cãi về chúng không? Đây
là những cách để biết mình đang ở đâu – rồi người ta có thể làm điều gì đó để cải
thiện. Việc tĩnh tâm không khó đến thế và điều đó thực sự đáng làm!
Paticcasamuppada là lời dạy của Đức Phật về 'lý duyên khởi'.
Lời dạy này xuất hiện ở nhiều chỗ trong Kinh tạng, mô tả cách thức mà đau khổ
được sinh ra tùy thuộc vào những duyên/điều kiện hỗ trợ. Quá trình này được bắt
đầu bởi vô minh và tà kiến trong tâm. Trong Upanisa Sutta, sự phân tích còn đi
xa hơn: Đức Phật chỉ ra rằng đối với những người mong muốn giác ngộ, bản thân sự
đau khổ là duyên/ điều kiện hỗ trợ cho việc phát sinh cam kết đi theo con đường
tâm linh và cuối cùng là giải thoát.
Công thức thông thường là mười hai yếu tố liên kết; từ cái
thứ mười hai, khổ, Upanisa Sutta tiếp tục như sau:
“Đau khổ là duyên/điều
kiện hỗ trợ cho niềm tin, Niềm tin là duyên/ điều kiện hỗ trợ cho hân hoan, hân
hoan là duyên/ điều kiện hỗ trợ cho hỷ lạc,
Hỷ lạc là duyên/điều kiện hỗ trợ cho khinh an, khinh an là duyên/điều kiện
hỗ trợ cho hạnh phúc/lạc, Hạnh phúc/ lạc là duyên/điều kiện hỗ trợ cho định (sự
tập trung), Định là duyên/điều kiện hỗ trợ cho sự hiểu biết và tầm nhìn về mọi
thứ như thật, Sự hiểu biết và cái thấy về sự vật đúng như thật là duyên/điều kiện
hỗ trợ cho sự nhàm chán, nhàm chán là duyên/điều kiện hỗ trợ cho sự ly tham, ly
tham là điều kiện hỗ trợ cho sự giải thoát, sự giải thoát là duyên/điều kiện hỗ
trợ cho (trí đoạn diệt) trí tuệ về sự tiêu diệt các lậu hoặc (những thói quen phiền
não có cội rễ sâu xa nhất)." Tương ưng bộ Kinh II, 29
[Nói gọn lại là Đau khổ làm duyên cho >> niềm tin
>> hân hoan >> hỷ lạc >> khinh an >> hạnh phúc, an lạc
>> định (sự tập trung) >> biết
về mọi thứ như thật >> nhàm chán (yểm ly) >> ly tham
>> giải thoát >> trí đoạn diệt
các lậu hoặc].
Bản tin Forest Sangha: Tháng 10 năm 1991, Số 18
Comments
Post a Comment