THE FIVE HINDRANCES - Năm Triền Cái (Trở Ngại/ Chướng Ngại)
Bài nói chuyện của Thầy Ajahn Brahmavamso tại Tu viện
Bodhinyana Vào ngày 15 tháng 8 năm 2001
Đây là bài pháp thứ sáu trong mùa an cư này. Tôi cố gắng sắp
xếp các bài nói chuyện trong khóa tu để bảo đảm phần hướng dẫn đầu tiên tập
trung vào một điều, và là một điều duy nhất, đó là sự phát triển định. Đức Phật
đã nói về Tam Học, 3 điều cần thực hành là giới - sila , định - Samadhi và tuệ -
paññā. Tại tu viện này, đặc biệt là vào thời điểm an cư này trong năm, Tăng
đoàn đang giữ giới rất đầy đủ. Sự kiềm chế và giữ giới của các bạn thật đáng
ngưỡng mộ, nên thường thì không cần phải nói quá nhiều về điều đó.
Bạn sẽ thấy rằng sự cô độc là một trong những cách tốt nhất
để khuyến khích việc giữ giới luật. Càng gặp nhau, nói chuyện, giao thiệp với
nhau thì càng có nhiều cơ hội để phạm giới. Nó tạo điều kiện cho phiền não
trong tâm khởi lên, đó là nguyên nhân khiến giới luật bị vi phạm. Trong sự cô độc,
giới luật ít có khả năng bị vi phạm hơn bởi vì không có sự kích thích khi sống
giữa những người khác, ở cùng bạn bè và do đó bạn ít có khả năng phạm sai lầm
hơn.
Vượt qua những Phiền não/ Chướng ngại
Vì vậy, thời gian cô tịch, thời gian các tu sĩ ở một mình,
không tham gia vào các cuộc trò chuyện, không làm gì nhiều này là thời gian
thanh tịnh tuyệt đối cho giới luật của bạn. Đó là lý do tại sao tôi tập trung
vào nửa đầu của khóa tu này vào việc sử dụng bất kỳ công cụ, phương tiện hay kỹ
thuật nào mà tôi đã học được trong suốt cuộc đời hành thiền của mình để hướng dẫn,
khuyến khích và truyền cảm hứng cho bạn trên con đường phát triển sâu sắc hơn về
định. Mục đích của định là vượt qua năm chướng ngại và cung cấp sự chuẩn bị dữ
liệu để phát triển tuệ giác. Dữ liệu và hiểu biết sâu sắc đó sẽ xuất hiện về
sau trong khóa tu này.
P.1
Đôi khi người ta lao về phía trước, bắt đầu suy nghĩ và hình
thành quan điểm này quan điểm khác về thực tại trước khi họ có kinh nghiệm về
thiền (jhāna). Sự hoạt động như vậy chỉ là papañca(7), là những vọng tưởng và
mơ mộng, nên tôi muốn để lại điều đó cho đến sau này trong khóa tu. Chủ ý về việc
vượt qua năm chướng ngại này là quan trọng bởi vì chính năm chướng ngại chặn
cánh cửa dẫn đến các tầng thiền và trí tuệ. Chính năm chướng ngại đã thúc đẩy
vô minh (8) . Đức Phật nói rằng vô minh là chất dinh dưỡng, thức ăn nuôi vọng
tưởng. Và vì vậy nếu năm chướng ngại đó còn hiện diện thì ý tưởng hay quan điểm
của ta không đáng tin.
Thực tế hiển nhiên rằng ai cũng cho là mình đúng, trong phòng
này không có người nào nói mình có tà kiến, họ luôn cho mình là đúng. Điều họ
thực sự đang nói là họ không sai. Không ai nói là: “Tôi sai”. Hãy nghĩ về điều
đó, khi nghĩ “Tôi sai” và nếu bạn thực sự sai thì có nghĩa là “tôi đã đúng”.
Còn nếu bạn đang có tà kiến, đang sai mà nói tôi đúng thì đó là sai. Đó là triết
học, và đó là những gì tôi sẽ nói trong buổi nói chuyện này. Mọi người đều tin
rằng họ đúng và đó là điều đáng suy ngẫm.
Trong những năm đầu tiên của cuộc đời tu sĩ, tôi đã tự hỏi:
“Tại sao các tu sĩ chân chinh lại tranh cãi và mọi người trên thế giới này lại có
những quan điểm khác nhau?” Chúng ta có thể thấy lý do, là do hoạt động của năm
chướng ngại, chúng bẻ cong nhận thức, bẻ cong thực tế, uốn cong suy nghĩ và uốn
cong quan điểm cho phù hợp với mục đích của chúng. Trong tâm lý học, chúng ta gọi
đó là sự phủ nhận, chúng ta thấy những gì chúng ta muốn thấy, chúng ta nhận thức
những gì chúng ta muốn chấp nhận. Đó là lý do tại sao trên thế giới này có rất
nhiều người cam đoan, hoàn toàn chắc chắn, tuyệt đối chắc chắn rằng họ đang đi
đúng hướng. Một số người tin tưởng tuyệt đối rằng họ là bậc Thánh Nhập lưu (9),
Bất Lai (10) hoặc A-la-hán (11) trên thế giới này, và họ không thể nhìn thấy sự
thật (là họ nhầm) do sức mạnh của các chướng ngại.
P.2
Vì những trở ngại này rất quan trọng nên chúng ta thực sự cần
biết rõ để vượt qua. Có một bài kiểm tra nhanh (acid test) để biết liệu những
chướng ngại đó có được vượt qua hay không, bài kiểm tra đó là khả năng nhập vào
tầng thiền jhāna, bởi vì những chướng ngại chính là những thứ ngăn cản ta đắc
thiền. Nếu những chướng ngại đó vắng mặt, thực sự vắng mặt, thì giống như khi
đi vào một tòa nhà hay một căn nhà, cánh cửa sẽ rộng mở và không có gì trở ngại
hay ngăn cản người ta nhập thiền. Đó là lý do tại sao những phiền não này được
gọi là chướng ngại, chúng thúc đẩy vô minh hay ảo tưởng. Chúng không chỉ cản trở
việc đi vào các tầng thiền mà còn cản trở, ngăn chặn trí tuệ.
Tiêu chí nhập thiền sẽ cho thấy liệu bạn đã sẵn sàng phát
triển trí tuệ giác ngộ chưa, đã sẵn sàng quán được bản chất của các sự vật như
thân, tâm, các căn, hay các uẩn (12) chưa. Tất cả những điều này không chỉ cho
bạn thấy liệu bạn có sẵn sàng chưa mà còn cho bạn thấy những phiền não trở ngại
này thực sự là gì và chúng tinh tế đến mức nào.
Đôi khi người ta nghĩ rằng họ đã vượt qua được các chướng ngại,
nhưng thực tế là họ vẫn còn quá xa chưa
thể nhập vào thiền. Đó chính là cách kiểm tra nhanh (acid test). Có người bảo rằng
họ dừng lại ở lối vào thiền và nói: “Điều này đủ tốt rồi, bây giờ tôi có thể
quán chiếu; bây giờ tôi có thể tìm ra”. Cách thực hành thông thường, phổ biến là
ngăn chặn các chướng ngại, khi cánh cửa dẫn đến thiền đã mở rộng thì jhāna sẽ tự
nhiên xảy ra. Tầng thiền Jhāna hút bạn vào, hay hút tâm trí và nhận thức của bạn
vào, và như vậy là trạng thái đã vượt qua các chướng ngại. Như tôi có nói gần
đây, vấn đề là bạn không thể dừng lại trước ngưỡng cửa nhập thiền như vậy.
Sẽ có lúc, trong quá trình thực hành định, có hiệu ứng quả cầu
tuyết xảy ra (hòn tuyết càng lăn thì càng dính tuyết và to lên, lăn mạnh hơn, 0
dừng lại được – ng dịch), khi đó bạn không thể dừng hay đẩy nhanh quá trình thiền
mà chỉ là quan sát. Với sự tập trung tâm trí tuyệt vời này, sự buông xả tuyệt vời
này, hiệu ứng đó ngày càng mạnh mẽ hơn, giống như một quả cầu tuyết lăn xuống đồi.
Bạn có thể làm nó dừng lại khi nó mới ở trên đỉnh đồi (khi nó bắt đầu lăn và
chưa lớn mạnh) nhưng khi nó lăn thẳng xuống thung lũng, nó quá lớn, quá nhanh,
tôi thấy không thể nào để dừng nó lại. Đây là lý do tại sao chúng ta gọi trạng
thái đó là cận định upacāra samādhi, một trạng thái kế ngay bên thiền jhāna và
không có chướng ngại. Tôi không thấy có cách nào tâm để dừng lại tại điểm cận định
upacāra samādhi mà 0 nhập thiền. Quá trình này sẽ kéo tâm trí hành giả vào trạng
thái thiền jhāna.
Đó là dấu hiệu cho biết trạng thái tâm bạn không có chướng
ngại. Bạn có thể quán thấy điều đó sau khi xuất thiền. (Khi nhập thiền) Những
triền cái, trở ngại đó sẽ bị loại bỏ trong một thời gian dài. Chúng bị đàn áp,
như được trình bày rất rõ trong Kinh Majjhima Nikāya, lời dạy của Đức Phật, mà
mọi tu sĩ Phật Giáo chân chính đều thừa nhận. Nếu chưa đắc thiền jhāna, năm chướng
ngại, cùng với những gì bạn có thể gọi là chướng ngại thứ 6 và 7 là sự bất mãn,
uể oải, và cứng nhắc của thân và tâm – đôi khi được gọi là mệt mỏi và bất mãn/chán
ghét – xâm chiếm tâm trí và ở đó. Khi nhập thiền jhāna, những thứ này không xâm
chiếm tâm trí bạn, chúng không còn tồn tại và có sự giải thoát khỏi các chướng
ngại.
P.3
Đây là thời điểm xuất hiện tuệ, tuệ này mang lại năng lực, sức
mạnh và thành quả. Điều này xảy ra không chỉ vì năm chướng ngại đã được khắc phục
mà còn vì tâm có thể quán chiếu lại những trải nghiệm đó. Như kinh 13 đã nói, đứng
trên những kinh nghiệm đó, dựa trên những kinh nghiệm đó, bạn có dữ liệu để thực
sự nhìn thấy bản chất của tâm, thân, năm uẩn và các căn. Nếu không có dữ liệu
đó, thật khó để tưởng tượng làm thế nào mọi người có thể nhìn ra sự thật. Vì vậy,
điều quan trọng là phải vượt qua năm chướng ngại này, và cũng phải sử dụng trạng
thái của các tầng thiền jhāna khi các chướng ngại đã được vượt qua, dựa vào đó mà
ta tập trung quán xét, để có thể khám phá lý do tại sao, ở đâu và làm thế nào
những trạng thái đó diễn ra cũng như ý nghĩa của chúng. Dẹp bỏ năm chướng ngại
là chìa khóa cho toàn bộ sự thực hành này, mà chúng ta gọi là giải thoát tâm
trí.
Hãy nhớ rằng năm chướng ngại này không chỉ là ham muốn giác
quan thông thường, sân hận, bồn chồn và hối hận, lười biếng và buồn ngủ, và
nghi ngờ. Có khi bạn nhìn vào tâm mình và (chủ quan) nghĩ: “Tôi không có ham muốn
(ngũ dục) giác quan. Tôi thực sự không muốn bất cứ điều gì. Tôi không có dục vọng
hay tham lam. Tôi không ao ước có một tách trà, đồ ăn, phụ nữ hay bất cứ thứ
gì. Tôi không có sân hận hay ác ý với ai, với chính mình, hay với bất cứ thứ
gì. Tôi không có bất kỳ sự bồn chồn thực sự nào, hay lười biếng và uể oải. Tôi
không có nghi ngờ thực sự. Tôi biết tôi đúng”. Bạn có thể nghĩ như vậy, nhưng
khi bạn chưa nhập thiền tức là những chướng ngại vẫn còn đó. Đó là lý do tại
sao tôi nói với mọi người rằng khi bạn hành thiền, nếu có một chướng ngại nào
đó, nếu bạn không thể tiến xa hơn, thì đó chắc chắn là đang còn ít nhất một
trong năm chướng ngại.
Hãy hành thiền theo đúng phương pháp và để không lãng phí
quá nhiều thời gian thì bạn hãy khám phá xem đó là chướng ngại nào, sau đó bạn
có thể xác định được vấn đề và tìm ra giải pháp đối trị phù hợp. Tôi có niềm
tin mãnh liệt vào lời dạy của Đức Phật, nếu có sáu chướng ngại, bảy chướng ngại,
hay tám chướng ngại thì Đức Phật cũng sẽ nói như vậy thôi. Năm chướng ngại,
theo danh sách thông thường, đủ để mô tả tất cả các chướng ngại giữa hành giả
và các tầng thiền jhāna. Chúng là những mô tả đầy đủ, vì vậy chúng ta nên xem
xét và nghiên cứu chúng.
P.4
Ham Muốn Nhục Dục (Vui Thích Trong 5 Dục)
Chướng ngại quan trọng nhất đứng đầu danh sách, kāma chanda,
không chỉ là ham muốn nơi các giác quan, có những lúc bản dịch tiếng Anh những
thuật ngữ này chưa nói hết ý, và khi mọi người chỉ dựa vào những bản dịch tiếng
Anh đó thì sẽ thiếu sót rất nhiều. Tôi đã học được rất nhiều tiếng Pāli từ Luật
tạng 14, trong đó những thuật ngữ này được giải thích thực tế vì chúng được áp
dụng trong cuộc sống. Trong thuật ngữ Pāli kāma chanda, chanda là điều bạn phải
làm nếu bạn không thể tham dự một cuộc họp của Tăng đoàn và bạn muốn tán thành
và đồng ý với những gì đang xảy ra ở đó, bạn sẽ cho phép chanda khi bạn vắng mặt.
Đó là sự đồng ý, chấp thuận, đồng tình và nó tinh tế hơn nhiều so với ham muốn
đơn thuần. Điều này có nghĩa là bạn đang đồng tình, đang nhượng bộ điều này, bạn
muốn nó, bạn chấp thuận nó và bạn cho phép nó xảy ra. (Kama Chanda thường được
dịch là vui thích trong 5 dục). Giống như nghĩa của chanda trong Luật tạng,
chúng ta có kāma chanda.
Là bạn chấp thuận cho thế giới giác quan , dục giới, tồn tại
trong ý thức của bạn, trong tâm trí bạn, bạn chấp nhận nó, cho phép nó và bạn
vui thích với nó, chanda nghĩa là như vậy. Bạn để cho 5 dục chiếm giữ hoàn toàn
tâm trí, và điều này tinh tế hơn nhiều so với chỉ là ham muốn đơn thuần. Còn kāma
trong chữ kāma chanda, đó là tất cả những gì thuộc kāmaloka, cõi dục, thế giới
của năm giác quan, bắt nguồn từ các cõi địa ngục, súc sinh, cõi ngạ quỷ, cõi
người và cõi chư thiên dục giới, cho đến mọi thứ liên quan đến các cõi dục giới
đó. Kåma Chanda là sự chấp nhận, đồng ý và vui thích để thế giới đó chiếm giữ tâm
trí bạn.
Đó là lý do tại sao những chướng ngại của kāma chanda là bất
cứ thứ gì, từ dục vọng cực đoan đến việc chỉ quan tâm đến việc cơ thể đang hoạt
động như thế nào. Nghĩ về lá thư mà bạn sắp viết, về cơn mưa lộp độp trên mái nhà
của bạn, về kutī (15) (liêu cốc) của bạn, hay những gì cần xây dựng tiếp theo,
hay bạn sẽ làm gì tiếp theo, tất cả đều ở kāmaloka, thế giới của giác quan – dục
giới, đó là tất cả kāma chanda – vui thích trong 5 dục. Đó cũng là kāma vitakka
– dục tầm, hay suy nghĩ về những điều đó, về gia đình, về sức khỏe, về việc đến
đây, đi đó, và những suy nghĩ về lời nói.
P.5
Lời nói là âm thanh, chúng là một phần của saddhā - tín hay
nền tảng đức tin, và tất cả những thứ này là một phần của kāmaloka, một phần của
thế giới năm giác quan (dục giới). Để cho những điều này có mặt trong tâm sẽ cản
trở việc hành thiền của bạn khi bạn đang cố gắng theo dõi hơi thở mà các cảm
giác xuất hiện trong cơ thể, đó là bởi vì bạn đang chấp thuận việc tâm chú ý đến
cơ thể, bạn đang đồng ý với điều đó, bạn đang cho phép nó xảy ra. Một trong những
phương pháp hóa giải tuyệt vời cho chanda là nibbidā, sự quay lưng, ghê tởm, nhàm
chán dục giới. Đó là lý do tại sao Đức Phật đã đưa ra một số ví dụ rất có ý
nghĩa về kāmaloka, dục giới, thế giới của dục vọng.
Hôm trước tôi đã nói về một trong những ví dụ yêu thích của
tôi, ví dụ về một khúc xương dính máu được ném cho con chó đói. Điều đó rất
thích hợp với dục giới, bạn chú ý đến nó và bạn có được cảm giác thoải mái
trong giây lát, giống như khi bạn gãi ngứa và cảm giác dễ chịu trong giây lát. Nhưng
nó không giải quyết được vấn đề cơ bản. Tương tự như vậy, khi con chó có khúc
xương dính máu, nó liếm khúc xương và cảm thấy như thể đó là một bữa ăn đầy đủ,
như thể đó là thịt thật. Tất nhiên, nó chỉ có hương vị mà không có chất dinh dưỡng
thực sự, không có gì trong đó, không mang lại sự hài lòng như nó hứa hẹn. Điều
này cũng tương tự với ham muốn ngũ dục ở dạng thô thiển nhất trên thế giới, cho
dù đó là tình dục, thức ăn hay bất cứ thứ gì khác mà bạn mong muốn, nó không
bao giờ mang lại cho bạn sự hài lòng.
Đừng trở thành người đi lang thang khắp thế giới để tìm kiếm
cục xương tiếp theo dính đầy máu. Bạn đến đây và thấy một cái xương dính đầy
máu, “Ồ, cái này không đúng”, thế là bạn đi đến một tu viện khác, trải nghiệm thử
và ở đó cũng không đúng. Bạn luôn chạy khắp nơi để tìm kiếm miếng thịt thật, bởi
vì bạn không thể tìm thấy miếng thịt thật đó trong thế giới giác quan, dục giới
này, như kinh nói, nó chỉ dẫn đến mệt mỏi và thất vọng.
Tất cả sự mệt mỏi và thất vọng xảy ra trong cuộc sống của bạn
là bởi vì người ta đang cố gắng tìm kiếm những mảnh xương dính đầy máu, chứ
không phải một bữa ăn có đủ bốn món thực sự, là điều sẽ có khi bạn từ bỏ vui
thích trong dục lạc. Một ví dụ khác rất hấp dẫn là ví dụ về một người đàn ông
trèo lên cây để hái trái, và khi anh ta đang ở trên cây thì một anh chàng khác
cũng đi ngang qua để lấy trái và chặt cây xuống. Vì vậy, ngay cả khi vô ý, khi
bạn đi theo thế giới giác quan, thì chính bản chất của nó là sẽ gây tổn thương,
hủy diệt và mang lại cho bạn nỗi đau.
P.6
Tối qua tôi có nói chuyện về xung đột trên thế giới, về cơ bản
xung đột trên thế giới không có hồi kết, thế giới này là như vậy. Cố gắng giải
quyết xung đột trên thế giới là điều không thể, hạn chế nó thì có thể, nhưng
ngăn chặn nó hoàn toàn thì không thể. Như người Anh có câu nói, 'bạn không thể
làm ra một chiếc ví lụa từ tai lợn nái'. Luân Hồi (16) là như vậy, cho nên Đức
Phật mới dạy Tứ Thánh Đế, thứ nhất là luân hồi, tức là khổ. Cách giải quyết là
thoát khỏi luân hồi, thoát khỏi xung đột, bằng cách không tái sinh nữa. Một khi
bạn được sinh ra, bạn có xung đột, tranh cãi với mọi người, xung đột với thời
tiết, xung đột với thức ăn, hoặc thức ăn xung đột với dạ dày của bạn, có đủ loại
xung đột đang diễn ra trên thế giới. Hôm nay tôi bị đau bụng nên tôi biết có xung
đột với thức ăn trong dạ dày của mình, đó là chuyện đương nhiên. Hãy hiểu rằng
cõi dục giới này rất nguy hiểm, ngay cả khi người ta không có ý định làm tổn
thương, làm hại, gây rắc rối cho bạn hoặc chọc tức bạn thì nó vẫn nguy hiểm.
Đó là bản chất của dục giới, thế giới giác quan. Nếu bạn
trèo lên cây thì sớm hay muộn, sẽ có một người nào đó không có ý xấu với bạn, đến
chặt cây và suýt giết chết bạn. Đó là lý do tại sao đôi khi chúng ta tức giận với
người khác hoặc có ác ý với người khác, bởi vì chúng ta nghĩ rằng người ấy cố
tình. Họ không cố tình làm những điều này. Trong cõi dục thì phải như vậy thôi. Nếu bạn trèo lên cây thì sớm hay muộn, sẽ có
ai đó mang cưa xích tới và cưa cây cho bạn ngã. Không có ý định xấu ở đó, nó chỉ
xảy ra như vậy. Đây chỉ là bản chất của dục giới, thế giới giác quan, nó nguy
hiểm.
Vì vậy, nếu bạn chơi đùa, vui thích trong dục giới, bạn sẽ gặp
rắc rối và điều đó có thể mang lại cho bạn nibbidā(17) – sự nhàm chán, yểm ly.
Nibbidā hướng tới việc hướng lên trên, ra khỏi thế giới dục giới này, nó mang lại
sự yểm ly nhàm chán với việc gặm những mảnh xương hứa hẹn rất nhiều nhưng chẳng
mang lại cho bạn điều gì, và yểm ly nhàm chán với toàn bộ dục giới chứ không chỉ
là đối với cái thân vật chất này. Bạn có thể xem dục giới này là asubha (18) bất
mỹ, bất tịnh; kết quả của việc thấy bất mỹ, bất tịnh asubha là nibbidā yểm ly ,
nhàm chán với thân xác này. Ngoài ra còn có yểm ly nhàm chán nibbidā đối với âm
thanh, và tất cả những điều bạn nghe được từ người khác, khen ngợi và chê bai,
nibbidā nhàm chán đối với cả hai khen và chê. Nibbidā nhàm chán, yểm ly đối với
con bò tây Tạng, con cú miệng ếch, tiếng ồn xe tải, mọi thứ có âm thanh. Nibbidā
đối với hình ảnh, nibbidā đối với mùi và vị của tất cả những thực phẩm mà chúng
ta có, thấy chúng quả là vấn đề (phiền phức đáng chán).
P.7
Tôi nhớ Ajahn Jayasāro cách đây nhiều năm, khi vị ấy chưa là
Ajahn, đã nói: “Sẽ thật tuyệt nếu chúng ta dùng loại thức ăn dành cho phi hành
gia”. Bởi vì vị ấy nghe nói rằng phi hành gia ăn bằng cách dùng một vài viên thực phẩm, một viên protein, một
viên vitamin và một viên carbohydrate (chất hữu cơ cần cho con người). Bạn chỉ
cần uống 3 viên vào thay vì phải dùng tất cả các loại thực phẩm khác nhau cần
được nấu chín và chuẩn bị, bày ra rồi ăn. Sẽ thật tuyệt phải không? Nếu chúng
ta có thể dùng các viên ấy mỗi ngày một lần, chúng ta có thể dùng 1 viên điểm
tâm và một viên dành cho ăn ngọ nếu bạn muốn. Sẽ thật tuyệt vời, các nhà sư
bưng bát cho các nhà sư đang nhập thất sẽ không cần mang theo thứ gì nhiều, chỉ
có một lọ thuốc nhỏ, “Đây là cúng dường bữa ăn dāna (19) của Thầy cho ngày hôm
nay”. Sẽ thật tuyệt vời vì nó loại bỏ tất cả , nibbidā nhàm chán, tất cả những
vấn đề liên quan đến mùi vị. Những viên thực phẩm đó giúp bạn xa lìa dục giới,
bạn không quan tâm đến nó, chỉ bỏ các viên thức ăn vào bát và ăn, bạn nhìn thấy
mọi thứ và bạn mặc kệ chúng, bạn quay lưng lại với tất cả những điều đó.
Nibbidā đó, tức là sự chán ghét dục giới đó, là cách tắt năm
giác quan. Thay vì có kāma chanda (vui thích trong 5 dục) bạn có kāma nibbidā
(nhàm chán 5 dục), nó giúp bạn rời xa dục giới. Bạn đã sống ở dục giới này được
bao lâu và nó đã mang lại cho bạn những gì? Bất cứ điều gì bạn có từ dục giới
đó đều chỉ là vấn đề rắc rối, tất cả những gì nó mang lại cho bạn chỉ là tuổi
già, đau khổ và cái chết. Tuổi già, đau khổ và cái chết, hết lần này đến lần
khác, nó mang đến cho bạn đủ loại vấn đề. Nếu tôi từng gây ra vấn đề cho bạn
thì đừng trách tôi, đó là kāma, chính dục giới đã gây ra vấn đề cho bạn. Nếu cơ
thể bạn gây ra vấn đề cho bạn thì đó là kāma, dục giới. Đó chính là dục giới. Nhàm
chán đối với dục giới là liều thuốc giải độc cho những trở ngại, vấn đề đó.
Nhàm chán dục giới không chỉ ngăn bạn đắm chìm trong những
suy nghĩ về quá khứ và đắm chìm trong trải nghiệm của các giác quan ở hiện tại
mà còn ngăn bạn nghĩ về chúng và lập kế hoạch về chúng trong tương lai. Tại sao
chúng ta lập kế hoạch? Bởi vì chúng ta nghĩ rằng chúng ta có thể kiểm soát được
thế giới và đạt được hạnh phúc. Đó chỉ là một nhiệm vụ vô vọng, một thứ thật tồi
tệ, hãy vứt bỏ tất cả đi. Bạn không cần phải lo lắng về tương lai, vì bạn biết
nó sẽ tồi tệ và không mang lại cho bạn nhiều hạnh phúc. Nó sẽ rắc rối hơn, nhiều
vấn đề hơn.
Là một vị Sư Cả, tôi không kiểm soát bất cứ điều gì, chúng chỉ
khiến tôi gặp nhiều rắc rối hơn, nhiều vấn đề hơn. Làm tu sĩ thứ hai, tu sĩ thứ
ba, hay tu sĩ cấp dưới chỉ là rắc rối hơn, nhiều vấn đề hơn trong cõi dục. Vì vậy,
thậm chí đừng lên kế hoạch hay suy nghĩ về tương lai khi bạn đang thiền định,
hãy có sự nhàm chán nibbidā đối với tất cả những điều đó. Khi có sự nhàm chán đối
với thức ăn, bạn chỉ ăn để nuôi sống cơ thể, nhiệm vụ của bạn là giữ cho cơ thể
được khỏe mạnh hợp lý và đi theo con đường trung đạo, con đường của Đức Phật.
P.8
Khi nhàm chán đối với năm giác quan thì chúng rất dễ bị tắt
đi, có nghĩa là khi bạn thiền định, các cảm giác trong cơ thể không xuất hiện.
Bạn trở nên chán ngấy việc cố gắng đưa cơ thể này ngồi vào một tư thế tốt đẹp -
điều đó đã xảy ra với tôi từ rất sớm trong cuộc đời xuất gia, tôi đã không biết
điều này khi còn là một cư sĩ hành thiền. Là một tu sĩ thiền định, tôi ngồi xuống
và chân tôi tê cứng, đau như bị kim châm. Mỗi lần điều đó xảy ra, tôi lại đổi tư
thế và phá hủy việc thiền định của mình, cho đến một ngày tôi quyết định rằng
mình đã chịu đựng đủ điều này. Tôi đã chán khi cứ phải luôn thay đổi tư thế ngồi
thiền vì chân tôi sắp bị tê. Tôi đã quyết định rồi, bây giờ dù cho chân tôi có
chết hay bị hoại thư hay bất cứ điều gì, tôi cũng sẽ ngồi yên đó. Và trước sự
ngạc nhiên của tôi, tôi gọi đó là những trò lừa bịp của thân, máu bắt đầu chảy
trở lại, và những cảm giác kim châm tự biến mất.
Thời xưa người ta gọi đó là trò lừa bịp của thân, họ ngồi đó
chịu đau nhức, rồi quên mất, nhập định sâu, sau đó thì đau nhức không còn nữa. Những
cơn đau nhức này trong cơ thể, chúng thực sự là đau nhức, hay chúng là sản phẩm
của tâm? Với định, bạn có thể ngồi thiền hàng giờ mà không thấy đau nhức gì cả.
Bạn có thể ngồi đó một tiếng hay một tiếng rưỡi không có định, cơ thể đau nhức
và cứng đờ, chuyện gì đang xảy ra vậy? Sau một thời gian, bạn sẽ không còn tin
rằng cơ thể, mắt, tai, mũi hay lưỡi nói lên sự thật, bạn có sự nhàm chán đối với
tất cả những điều đó. Có nghĩa là những thứ này không can thiệp vào bạn, một âm
thanh vang lên bạn không quan tâm, hãy quay lưng lại với những thứ này.
Đối với sân hận cũng vậy, bây giờ tới chướng ngại thứ hai này.
Sân hận là một chướng ngại ngu ngốc, một chướng ngại điên rồ. Tôi không biết tại
sao mọi người lại thực sự bị phiền lòng bởi ác ý, bởi vì nó có tác dụng gì với
bạn đâu. Nếu ai đó làm bạn khó chịu, nói điều gì đó bạn không thích, làm điều
gì đó mà bạn không tán thành, tại sao lại để họ gây cho bạn một ngày tồi tệ? Bạn
không cần phải cho phép họ phá hỏng hạnh phúc của bạn. Ngay cả khi đó là ác ý của
bạn đối với người khác, ác ý với người khác có đạt được điều gì 0? Cố gắng trả
thù, hắn đã làm tổn thương tôi và do đó tôi sẽ làm tổn thương hắn. Bạn loanh
quanh lập kế hoạch, hoặc bạn tạo ra những sóng gió cố gắng làm họ khó chịu hoặc
hạ gục họ. Bạn dùng rất nhiều lời nói, đặc biệt là khi đối đầu, chỉ nhằm mục
đích mang lại cho người khác một ngày tồi tệ. Ác ý, sân hận thực sự không giúp
ích được gì cho bất kỳ ai. Nếu người khác làm điều gì sai trái, nếu họ thực sự
đã phạm giới, hay làm điều gì không phù hợp, đó là vấn đề của họ, đó là vấn đề
của nghiệp, nghiệp sẽ giải quyết mọi chuyện, bạn không cần phải có ác ý với ai.
P.9
Khi bạn thực sự nhìn thấy ác ý đó, bạn sẽ thấy rằng nó đang làm
tốn quá nhiều thời gian trong cuộc đời bạn. Bạn không có nhiều thời gian cho ác
ý, mà bây giờ là thời gian tốt nhất, khóa thiền, không có nhiều phiền nhiễu cho
bạn, tại sao lại lãng phí thời gian cho sân hận? Ngoài mùa an cư, khi bạn đang
làm nhiều việc, thì thời gian để thiền lại càng ít, vậy tại sao lại lãng phí dù
chỉ một giây cho ác ý? Thật là điên rồ, tôi nghĩ Đức Phật đã mô tả sân hận, ác
ý như một căn bệnh, và với căn bệnh đó, bạn không thể nào đạt được trí tuệ, hạnh
phúc hay thiền định. Vì vậy, hãy đặt sân hận sang một bên, hãy sử dụng tuệ
giác, trí thông minh của bạn để thấy rằng ý muốn xấu xa đó sẽ chẳng đưa bạn đến
đâu, và hãy đặt nó sang một bên, có sự nhàm chán nibbidā đối với nó. Hãy suy ngẫm
xem nó đã lãng phí bao nhiêu thời gian của bạn, đã hành hạ bạn như thế nào, khiến
bạn ốm yếu và yếu đuối như thế nào, rồi hãy để nó biến mất.
Ác Ý và Sân Hận
Tôi đã đề cập trước đây trong một số buổi nói chuyện, sân hận
đi rất sâu, sân hận ngăn cản bạn có được hạnh phúc, không cho phép bạn hạnh
phúc và nó có thể trở nên rất hung hăng. Có một câu chuyện được phỏng theo
Udāna, về con quỷ ăn cơn giận – mà tôi sẽ không đi sâu vào chi tiết ở đây vì có
lẽ tất cả các bạn đã từng nghe về nó nhiều lần – bạn càng tức giận hoặc hung
hãn với con quỷ, nó sẽ trở nên mạnh mẽ hơn. Đó là lý do tại sao để xóa sạch phiền
não tham dục, chúng ta tát vào chúng một chút, nhưng nếu chúng ta cố gắng làm
điều đó với ác ý thì sân hận thậm chí còn tệ hơn, nó xuất phát từ cảm giác về
“cái tôi”. Dùng sân hận diệt trừ sân hận, đó không phải cách. Đức Phật dạy
mettā, lòng từ, là con đường vượt qua/diệt trừ phiền não sân hận.
Đó là lý do tại sao các tu sĩ trên sông Vaggumuda khi thực
hiện asubha kammahāna (đề mục thiền bất tịnh) lại chán ghét bản thân đến mức họ
đã tự sát (Vinaya Pitaka, Intro to Pārājika 3). Đức Phật đã phải nói: “Này các
Tỷ-kheo, đó là cách sai lầm, hãy cân bằng việc thực hành của mình”. Thiền bất tịnh
Asubha rất tốt cho việc giảm bớt và ngăn chặn (tham) ham muốn giác quan, nhưng
sân hận cần lòng từ, nó cần sự mềm mại của tâm, và điều đó cần được xem xét
trong thiền định.
P.10/19 –
Tôi thường nói rằng mọi người ở tu viện này không vào thiền
sâu vì một trong những chướng ngại lớn nhất là sân hận/ chán ghét đối với chính
họ, hay với đối tượng thiền, chứ không phải vì sân hận đối với người khác. Bạn
có thể dễ dàng nhận thấy điều đó, nghĩa là khi bạn thiền, khi bạn đang quan sát
hơi thở, bạn có ác ý đối với hơi thở đó, nói cách khác là bạn muốn chinh phục
được hơi thở đó, bạn sẽ sử dụng sức mạnh nam nhi của mình, tôi mạnh hơn hơi thở,
hãy nắm lấy hơi thở giống như một người bảo vệ ở hộp đêm, đây là cách tôi sẽ nắm
bắt được hơi thở và tôi sẽ giữ nó ở đó. Sự hung hăng đó là ác ý, và bạn sẽ thấy
mình có thể giữ hơi thở trong một thời gian ngắn nhưng vì vô thường (anicca),
nên ngay khi bạn nới lỏng sự giữ chặt của mình thì hơi thở sẽ biến mất. Nó sẽ
chạy nhanh và không quay trở lại, là do toàn bộ sự căng thẳng của việc đó sẽ
không bao giờ cho phép tâm trí lắng xuống.
Đó là lý do tại sao trong phương pháp thiền này, thi thoảng bạn
thực hành thiền lòng từ thì rất tốt. Tôi không có ý cho rằng có thể thiền định
sâu bằng cách nói “Cầu mong tất cả chúng sinh được hạnh phúc”, như một bài tập
bằng lời nói. Bạn chỉ cần nhớ tâm từ có nghĩa là gì, và khơi dậy tâm trạng từ
bi, đưa nó vào trong tâm và làm dịu tâm. Hãy đặt trạng thái tâm từ vào hơi thở
và như vậy bạn đang thiền định về hơi thở với tâm từ (mettā). Tâm từ Mettā và
thiền hơi thở ānāpānasati 21 hòa quyện làm một, bạn đang theo dõi hơi thở thật
nhẹ nhàng và bạn thấy hơi thở vẫn ở đó. Bạn không cố gắng nắm lấy nó, 0 dùng vũ
lực giữ nó lại hoặc chiến đấu với nó như một người lính. Bạn đang từ bi như một
vị Phật. Và với lòng từ bi, tử tế và nhẹ nhàng đó, bạn sẽ thấy việc nắm lấy hơi
thở dễ dàng hơn nhiều và phát triển thiền định sâu sắc hơn nhiều.
Tôi nhớ có lần khi bắt đầu một khóa tu thiền; Tôi quá mệt mỏi
sau khi làm tất cả công việc trong ngày, rồi đi đến khóa tu và nói phần giới
thiệu. Sau phần nói chuyện ấy, tôi nghĩ, “Được rồi, bây giờ là lúc mình có thể
hành thiền”. Thật tuyệt vời khi đặt tâm từ vào hơi thở, và tôi đã có một thời
thiền định sâu sắc tuyệt vời, thậm chí suốt đêm tôi đã mơ về thiền định đó. Tôi
thức dậy vào buổi sáng và ấn tướng thiền nimitta 22 đã ở ngay đó ngay khi tôi
thức dậy. Thật tuyệt vời khi đặt lòng từ cùng với hơi thở, và rõ ràng là tối
hôm đó, có lẽ vì mệt mỏi nên chướng ngại là sân hận, nhưng tôi đã phát hiện ra
nó và hóa giải nó với kết quả đáng ngạc nhiên. Vì vậy, khi bạn có thể nhìn thấy
những chướng ngại này và thực sự đưa ra phương pháp hóa giải phù hợp thì điều kỳ
diệu sẽ xảy ra, và tất nhiên cách duy nhất mà bạn có thể biết liệu đó có phải
là sân hận hay không là thử thiền tâm từ.
P.11
Nếu thành công thì bạn biết : 'À, đó là sân hận'. Sau đó, bạn
biết chướng ngại sân hận có khi rất vi tế, và bạn chỉ biết qua thực hành; nếu
cách hóa giải bằng lòng từ có tác dụng thì đó chính là sân hận. Tôi thực sự
không thể thấy sân hận mà tôi có tối hôm đó, tôi không thể nhận ra đó là sân hận,
tôi chỉ có một chút trực giác để thực hành lòng từ, và nó đã có hiệu quả. Đôi
khi, bạn không thể nhận ra sân hận đang có mặt, nó gần như vô hình. Nếu thiền
ngay lập tức đi sâu hơn bằng cách sử dụng lòng từ thì bạn biết đó là sân hận,
và bạn cũng có thể thấy sân hận này là chướng ngại cho trí tuệ như thế nào. Một
số chướng ngại sân hận rất vi tế, chúng giống như người vô hình, như ma vậy,
chúng chặn đường thiền, chúng rất vi tế và tinh tế đến mức bạn không thể thực sự
thấy chúng đang cản đường. Nhưng những phương thuốc mà Đức Phật đưa ra là những
phương thuốc có tác dụng.
Sự bồn chồn và hối hận (Điệu Cử và Hối Hận - Trạo Hối)
Khi nói đến Uddhaccakukkucca, tâm bất an thì tất cả các bạn
đều biết điều này. Khi bạn đang hành thiền, tâm trí cứ quay đi quay lại, bạn cố
gắng làm cho nó ngừng suy nghĩ, ngừng đi đây đi đó, nhưng nó không chịu lắng xuống.
Nó rất gần với sân hận, nhưng nếu nhìn sâu hơn, bạn sẽ thấy rằng đó không phải
là sân hận, mà là tâm đang đi tìm lỗi lầm. Đó là sự thiếu hài lòng và đó là lý
do tại sao từ hài lòng lại có sức mạnh hóa giải như vậy. Nếu lòng từ không có
tác dụng (thì đó 0 phải là sân hận), hãy thử phát triển sự hài lòng. Sự hài
lòng nói với 'quỷ ăn giận': "Này Quỷ ăn giận, ngươi có thể ở đây bao lâu
tùy thích". Nếu tâm trí đang chạy tới chạy lui, cứ để nó chạy tới chạy
lui. Hãy nói với tâm trí rằng: “Bạn có thể chạy bất cứ nơi nào bạn muốn, tôi
hoàn toàn hài lòng”. Điều đó lấy đi sức mạnh khiến tâm trí luôn dao động. Lực
đó là gì? Nó luôn luôn bất mãn, muốn cái gì khác, muốn ở một nơi nào khác, và
không bao giờ thực sự muốn những gì đang xảy ra ở đây và bây giờ, bởi vì bạn đã
đánh giá nó là sai, không đủ tốt. Tâm đang lang thang khắp nơi và bạn nghĩ rằng
điều này không tốt, nhưng với sự hài lòng thì không sao, vì vậy hãy để nó đi.
Cái gì sinh khởi, sẽ diệt đi, tâm bất an sẽ tự nó chậm lại.
Sự hài lòng đang làm suy yếu 'tâm tạo tác' là điều thực sự rất
khó nhận thấy. Khi bạn áp dụng sự hài lòng ngày càng nhiều, ngày càng sâu hơn,
bạn sẽ thấy rằng đó là một công cụ vô cùng mạnh mẽ giúp đưa bạn vào trạng thái
định sâu. Vì vậy, khi bạn đang theo dõi hơi thở, bạn chỉ cần hài lòng với hơi
thở cũ kỹ thô thiển mà bạn đang có hiện tại, hoàn toàn hài lòng, bạn không bao
giờ muốn bất cứ thứ gì khác trên toàn thế giới. Tất cả những gì bạn muốn chỉ là
ở đây bây giờ với hơi thở cũ kỹ hư hoại này. Hãy thử điều đó, nó được gọi là
buông bỏ. Sự hài lòng trọn vẹn đó cũng giống như việc leo lên xe buýt và để mọi
việc tự nhiên diễn ra, hoàn toàn buông bỏ. Điều xảy ra là ‘tâm tạo tác’, thứ tạo
ra vấn đề, đã được nhìn thấy. “Mara, ta biết ngươi, ngươi chỉ bất mãn, tìm lỗi.
Ta sẽ không theo dõi ngươi. Tôi sẽ không quan tâm dính dáng đến ngươi. Muốn làm
gì thì làm.”
P.12
Điều đó cho Māra biết rằng hắn đã bị phát hiện, hắn khom vai
bước đi và nói: "Nhà sư đã phát hiện ra ta". Ý nghĩa của ẩn dụ đó là
sự xáo trộn sẽ khom vai xuống và lỉnh đi mất; tâm được an định nhờ sự hài lòng,
không có lý do gì để tâm xao động nữa.
Tâm lắng xuống giống như ví dụ của Ngài Ajahn Chah về chiếc
lá dao động trên cây. Sự hài lòng đã xua tan cơn gió của bất mãn, của tâm tạo
tác, và khi cơn gió đó dần dần biến mất, chiếc lá càng lúc càng dao động ít đi,
tâm lắng xuống, hơi thở lắng xuống và trước khi bạn nhận ra được điều đó, bạn
chỉ cần quan sát hơi thở đẹp, tĩnh lặng. Bạn rất hài lòng với hơi thở đẹp, tĩnh
lặng, và sự hài lòng đó trở thành khuynh hướng của tâm, nó được thiết lập trong
tâm. Bạn sẽ hài lòng đến mức hơi thở đẹp tĩnh lặng biến thành ấn tướng nimitta,
nhưng bạn khoan quan tâm. Bạn chỉ cần hài lòng dù ấn tướng nimitta đến hay đi.
Dù nó muốn ở lại bao lâu cũng được. Bạn rất hài lòng và không ép buộc vấn đề
này. Bạn đã buông bỏ, bạn không điều khiển việc hành thiền. Và vì sự hài lòng
đó mà ấn tướng thiền nimitta không chuyển động, vì nó không chuyển động nên nó
tích tụ ngày càng nhiều năng lượng hơn và bạn nhập vào sơ thiền. Sự hài lòng tiếp
tục hoạt động để vượt qua tầm và tứ (vitakka vicāra) 23, sau đó hành giả có được
sự hài lòng hoàn toàn trong nhị thiền.
Mức độ hài lòng có thể đưa bạn đi xa trong thiền. Đó là một
liều thuốc hóa giải mạnh mẽ cho tình trạng bồn chồn làm tâm xao động chao đảo
trong sơ thiền. Sự bồn chồn đó là do bạn đang tìm lỗi và phê phán. Những vị tỳ
khưu nào luôn chỉ trích và luôn bắt lỗi người khác, bắt lỗi tu viện, về chuyện
này chuyện kia, thì sẽ không bao giờ tìm thấy sự hài lòng ở đời. Họ sẽ đến một
tu viện khác mà vẫn mang theo tâm tìm lỗi, nên họ cũng không hài lòng ở đó,
ngay cả khi họ có thể tìm thấy Rừng Jeta và Đức Phật đang ngồi ở đó, họ cũng sẽ
không hài lòng. Vì vậy, tâm tìm lỗi đối nghịch với sự hài lòng.
Bạn có thể cảm nhận được sự hài lòng khi bạn thực hành sự
hài lòng nhiều trong thiền định, đó không chỉ là một từ ngữ mà là cả một vùng trong
tâm trí, và nó là một khu vực, một địa điểm, một con đường dẫn đến thiền định
sâu sắc. Hài lòng là một từ rất rất hay, và bạn càng suy ngẫm về nó, bạn càng để
nó dẫn dắt mình và bạn sẽ càng biết nó có sức mạnh như thế nào khi là con đường
đi vào thiền định sâu sắc. Nó cũng chỉ cho bạn con đường trở thành một vị
A-la-hán, hoàn toàn hài lòng.
P.13
Chướng ngại hối hận kukkucca rất gần với chướng ngại hoài
nghi. Đó là sự hối hận về những điều bạn đã làm, những điều lẽ ra bạn không nên
làm. Tất cả các bạn đều biết cách ngăn chặn điều đó là bằng sự tha thứ. Thôi kệ,
trên đời này ai cũng có lỗi lầm, không ai hoàn hảo vì thế giới không hoàn hảo,
vì sắc uẩn, thọ uẩn, tưởng uẩn, hành uẩn, thức uẩn đều không hoàn hảo. Vậy bạn
đang mong chờ điều gì? Bất kỳ tu sĩ hay con kangaroo gì thì cũng vậy, đều không
hoàn hảo, họ chỉ là các uẩn do duyên hợp lại, vậy nên hãy tha thứ và buông bỏ,
đó là điều đương nhiên.
Lười biếng và buồn ngủ (Hôn Trầm và Thụy Miên)
Lười biếng và buồn ngủ là sự tiêu cực cố gắng trốn thoát thực
tại bằng giấc ngủ. Khi tôi đến thăm các nhà tù, vì nhà tù là nơi rất khó chịu
khi ở đó nên họ có một trong những câu nói phổ biến là “Một giờ ngủ là một giờ
giảm án” còn ở đây trong tu viện, ngủ thêm một giờ là lãng phí một giờ. Lười biếng
và buồn ngủ cho thấy bạn thực sự không thích thú với việc mình đang làm. Không
thấy vui trong thực hành thiền. Asubha kammahānah sự ghê tởm nơi sự vật có thể
dễ dàng khiến bạn hôn trầm và buồn ngủ, trừ khi bạn phát triển quán bất tịnh
asubha đến mức nó khơi dậy hỷ lạc pītisukha (24). Hãy cẩn thận, nếu nó chỉ khơi
dậy tiêu cực, tâm sẽ có khuynh hướng rơi vào hôn trầm và buồn ngủ.
Nếu bạn vui thích trong thiền thì sau một thời gian, năng lượng
sẽ tự nhiên nảy sinh trong tâm trí. Đừng lúc nào cũng nhìn đồng hồ, thay vào đó
hãy nhìn vào thời điểm hiện tại. Đồng hồ có thể tạo ra sự lười biếng và uể oải.
Bây giờ là mười giờ, mười một giờ, bây giờ là giờ đi ngủ của tôi, và bạn bắt đầu
ngáp, nếu không nhìn đồng hồ thì ai biết bây giờ là mấy giờ. Có lần khi còn là
một cư sĩ, tôi đã đi đến miền bắc Na Uy theo vòng Bắc Cực, trời sáng gần như cả
ngày lẫn đêm, trong hai mươi bốn giờ mà không có gì thay đổi nhiều, điều đó thực
sự làm tôi bối rối, tôi không biết ngủ vào lúc nào là thích hợp. Thật là tuyệt
vời nếu mang được tất cả các tu sĩ lên đó để an cư mùa mưa. Bạn sẽ thấy mình có
thêm năng lượng, tại sao lại phải ngủ khi trời còn sáng. Bạn sẽ chỉ ngủ khi cơ
thể nói với bạn rằng nó thực sự mệt mỏi, không chỉ vì trời tối hay chỉ vì đó là
giờ đi ngủ của bạn.
P.14
Đó là lý do tại sao trong tu viện này chúng ta không có họp
buổi sáng và buổi tối, bởi vì tôi không muốn bạn trở thành tù nhân của đồng hồ.
Tôi muốn bạn thoát khỏi điều đó, để khi việc thiền diễn ra tốt đẹp thì cứ tiếp
tục thực hiện. Khi đến giờ nghỉ ngơi, hãy nghỉ ngơi. Nếu bạn thúc đẩy bản thân
quá nhiều, bạn sẽ rơi vào trạng thái lười biếng và buồn ngủ. Một người có tâm
trí trong sáng và không thiền định nhiều thì tốt hơn là hầu như không ngủ (để
hành thiền) và có tâm trí vật vờ suốt cả ngày. Hãy cẩn thận, tôi đã từng trải
qua điều đó. Nếu bạn cố gắng giảm bớt giấc ngủ đến mức khi bạn ngủ gật khi thức
dậy vào buổi sáng hay khi ngồi dậy, thì
đó là ngủ chưa đủ. Cũng hãy cẩn thận đừng ngủ quá nhiều, bạn sẽ lại bị uể oải
và lười biếng. Hãy ngủ đủ giấc, ăn đủ, tập thể dục và có hạnh phúc trong cuộc sống
thì bạn sẽ không có quá nhiều lười biếng và uể oải. Người tiêu cực thường lười
biếng và buồn ngủ. Những người có thái độ tích cực thì có năng lượng.
Nếu bạn bị lười biếng và buồn ngủ, hãy khơi dậy hạnh phúc, bởi
vì hạnh phúc là năng lượng, hãy khơi dậy niềm vui trong tâm bạn; khơi dậy ấn tướng
bất mỹ asubha nimitta, một đối tượng vui vẻ, hạnh phúc trong tâm. Nếu bạn thích
tụng kinh, hãy tụng kinh. Nếu bạn thích đi bộ, hãy đi bộ. Nếu bạn thích ngồi
thiền, hãy ngồi thiền. Nếu bạn thích đọc kinh sách, hãy đọc. Ở đây tôi không
nói về sự tận hưởng ngũ dục nơi giác quan, vì vậy đừng bắt đầu nghĩ về phụ nữ.
Tôi sẽ không nói cho bạn biết ai, nhưng một trong những tu sĩ ở một tu viện ở
Thái Lan đã từng làm điều đó, ông ấy nói rằng (khi nghĩ về ngũ dục như vậy) ông
ấy không hề thấy uể oải hay buồn ngủ, không hề bất an chút nào. Nhưng dùng một
chướng ngại để thay thế một chướng ngại
khác thì 0 phải là cách đúng. Hãy vượt qua lười biếng và buồn ngủ với một đề mục/
đối tượng lành mạnh mang lại hạnh phúc và niềm vui. Cāgānussati – niệm thí là một
trong những cách mà tôi yêu thích, tôi quán chiếu lại tất cả những hy sinh và
những điều tốt đẹp mà tôi đã làm. Như một nhà sư đã nhắc nhở tôi hôm nay, hãy
suy ngẫm về tất cả những người tuyệt vời đã đến dự sinh nhật của tôi, và họ đã
đến bởi vì tôi đã làm điều gì đó cho họ. Tôi đã tặng họ cái gì đó, đó là lý do
tại sao họ đến. Chính cāga, sự rộng lượng và bố thí của tôi đã tạo ra điều đó. Vì
vậy, bạn có thể quán xét về điều tích cực đó thay vì suy nghĩ tiêu cực. Tại sao
sinh nhật của tôi lại vào mùa an cư? Thật không công bằng, tại sao lại không là
lúc khác vì lúc này chúng ta đang bận tập trung tu tập? Sau đó chỉ cần có thái
độ tích cực để suy ngẫm về sự tìm hiểu đó và điều đó mang lại năng lượng. Tôi
phải thừa nhận rằng tôi đã quên làm điều đó nên tôi đã tiêu cực trong việc tổ
chức sinh nhật cho mình, mà lẽ ra tôi nên tích cực tổ chức sinh nhật. Thật tuyệt
vời khi có nhiều người đến như vậy phải không? hạnh phúc thông qua ấn tướng bất
tịnh asubha nimitta (thấy điều bất tịnh 0 quá ghê gớm, vd 1 xác chết 0 còn quá
xấu xí mà ấn tướng của nó là hình dáng 1 người đang nằm ngủ - ng dịch), bất cứ
điều gì mang lại năng lượng và niềm vui đều mang lại năng lượng cho tâm.
P.15/19
Hoài nghi
Và cuối cùng là hoài nghi vicikicchā, đối nghịch với hôn trầm
và thụy miên. Nghi ngờ là suy nghĩ quá nhiều. Khi bạn suy nghĩ quá nhiều, bạn sẽ
luôn nghi ngờ. Bất cứ nơi nào có suy nghĩ thì sẽ có hai khả năng, như đứng ở ngã
ba, nghi ngờ vấn đề có thể theo cách này hay cách kia, đó là nhị nguyên. Khi
không có nhị nguyên thì có sự thống nhất của tâm và nghi ngờ không thể xảy ra,
chỉ cần tuân theo những hướng dẫn. Đôi khi, sự nghi ngờ có thể nảy sinh khi
chúng ta quán chiếu về Giáo pháp hơn là quán chiếu về con đường/ cách thức,
chúng ta quán chiếu về mục tiêu hơn là con đường đi đến mục tiêu. Con đường đi
tới mục tiêu khá rõ ràng, mọi người đều đồng ý về điều đó, đặc biệt là theo
truyền thống PG của chúng ta, nhưng mọi người có quan điểm khác nhau về những
gì bạn thực sự nhìn thấy khi đạt được mục tiêu.
Thật lãng phí thời gian khi có những khác biệt về quan điểm,
hãy đạt được quan điểm chung trước và sau đó tự mình xem xét. Vì vậy, đừng lãng
phí thời gian nghi ngờ về mục tiêu và những gì sắp xảy ra ở đó, bạn biết là nó
sẽ tốt. Đức Phật đã đến nơi và nói rằng Niết bàn (25) là một nơi tốt để đến, vì
vậy hãy đi theo con đường Phật dạy và tin tưởng rằng đây là con đường của các bậc
Thánh (26). Đây là con đường mà bạn thấy trong kinh, là con đường dẫn đến
Nibbāna. Đó là một con đường tuần tự tiến lên, có nghĩa là nó ngày càng trở nên
tốt hơn, ngày càng có nhiều sức mạnh, hạnh phúc và sâu sắc hơn. Bạn có cảm giác
rằng mình đang ngày càng tiến gần hơn đến một điều gì đó rất tuyệt vời, rất tốt
lành và giải thoát. Bạn đang ngày càng tiến gần hơn đến những gì bạn luôn mong
muốn. Càng thiền bạn càng đến gần hơn và bạn càng chắc chắn rằng đây là con đường
đúng. Vicikicchā – hoài nghi được khắc phục dần dần, thông qua thực hành, trải
nghiệm những gì đang xảy ra, và cuối cùng bạn sẽ có được trải nghiệm đầu tiên về
một tầng thiền jhāna, và mọi nghi ngờ về điều bạn cần làm thường bị loại bỏ. Bạn
thực sự thấy điều gì đang xảy ra với tâm và thân này, mọi nghi ngờ đều tan biến.
Bạn biết phải làm gì để không phải loay hoay, lung lay, chùn bước hay do dự,
‘Đây là việc tôi phải làm, hãy vào đó và làm’.
P.16
Phần kết luận
Đây là năm chướng ngại cho việc hành thiền của hành giả. Bất
cứ điều gì đang ngăn cản bạn tận hưởng sự thiền định sâu sắc nhất thì đó chắc
chắn phải là một trong năm trở ngại này, hay là sự kết hợp của chúng. Nếu là kết
hợp của nhiều chướng ngại thì sẽ có một chướng ngại nổi bật, nên đừng bối rối,
hãy nhận biết chướng ngại, biết cách chữa và áp dụng. Khi áp dụng phương thuốc
đó, bạn cũng sẽ thực hành dhammānussati 27 – niệm ân đức Pháp, áp dụng niệm xứ
đầu tiên là niệm thân Satipatthāna 28, để nhận biết những chướng ngại này là
gì. Lý do niệm ân đức Pháp dhammānussati dẫn đến tuệ giác sâu sắc là bởi vì đây
là những hình thức tham ái vi tế, những hình thức tham luyến vi tế; năm chướng
ngại là biểu hiện của những điều này.
Mọi người trên thế giới nói đủ thứ điều ngớ ngẩn khi định
nghĩa chấp thủ là gì, tham ái là gì, ở đây bạn đang nhìn thấy qua kinh nghiệm
đơn thuần để hiểu chúng là gì. Bạn không chỉ đọc thực đơn mà còn nếm thử món
ăn. Bạn sẽ thấy tham ái là gì và nó nguy hiểm như thế nào, nó khó theo dõi đến
mức nào. Nó thực sự rất trơn trượt khó nắm bắt được, nhưng một khi bạn thực sự
nhìn thấu nó thì sẽ dẫn đến việc tiêu trừ năm chướng ngại. Từng điều trong năm
chướng ngại này đều là biểu hiện của tham ái, một khi bạn thực sự thấy rằng bạn
hiểu tham ái sâu sắc như thế nào, bạn sẽ hiểu tại sao việc nhổ tận gốc nó lại
khó đến thế, và tại sao cách nhổ tận gốc nó thì phải thông qua thực hành bát
chánh đạo với đỉnh cao là các tầng thiền Jhana.
Vì vậy, đây là những hiểu biết sâu sắc mà bạn có được thông
qua việc quán chiếu năm chướng ngại này, biết rõ chúng đến mức hoàn toàn. Bạn
biết các phương pháp hóa giải, và bạn trở thành người - như người ta nói trong
kinh - có thể nhập thiền một cách dễ dàng, không khó khăn, không trở ngại. Đã
biết đường vào, biết chướng ngại, biết cách hóa giải chướng ngại, làm sao có thể
có khó khăn gì? Xin hãy ghi nhớ những lời này trong hai hoặc ba tuần tới. Chỉ cần
tập trung vào việc thực hành dẫn đến tầng thiền jhāna, và trên đường đi bạn sẽ
có một số hiểu biết sâu sắc về bản chất của tham ái và dính mắc. Vì vậy, hãy
ghi nhớ những lời này và mong rằng chúng mang lại kết quả cho sự thực hành của
bạn.
___________
1 Samādhi: Định – là duy trì sự chú ý vào một vật. 2 Sīla: Giới,
là Đức hạnh hay hành vi đạo đức. 3 Paññā: Trí tuệ. 4 Vinaya - Luật tạng: Quy tắc
kỷ luật tu viện. 5 Chướng ngại, có năm: 1. Tham dục 2. Sân hận và giận dữ 3.
Hôn trầm và thụy miên
P.17
4. Bồn chồn điệu cử và hối hận 5. Nghi ngờ 6 Jhāna: tầng thiền,
là trạng thái thiền sâu của buông bỏ. 7 Papañca : vọng tưởng. 8 Avijjā : Ảo tưởng
hay vô minh (0 biết về Tứ Diệu Đế).
Sự thật cao quý, là bốn Sự thật về: 1. Khổ đau 2. Nguyên
nhân của khổ đau 3. Sự chấm dứt khổ đau 4. Con đường dẫn đến sự chấm dứt khổ
đau 9 Sotāpanna: Bậc Thánh Nhập lưu, giai đoạn đầu của Giác ngộ. vị ấy được bảo
đảm sẽ đạt được giác ngộ viên mãn (Arahant) trong vòng nhiều nhất là bảy kiếp
(hoặc ít hơn). 10 Anāgāmī: Thánh Bất Lai, Tam Quả, bậc đã đạt đến tầng giác ngộ
thứ ba. 11 A-la-hán: Bậc giác ngộ viên mãn.
12 Các Uẩn - Nhóm. 5 nhóm mà Đức Phật đã tóm tắt, các chúng
sinh là tập hợp của các uẩn, có nhiều nhất là 5 uẩn gồm, 1. Sắc thân, rūpa; 2.
thọ, vedanā; 3. tưởng, saññā; 4. Hành, sankhāras; 5. và thức, viññāna. 13 Sutta:
Kinh, Bài giảng của Đức Phật, hoặc một trong những đệ tử chính của Ngài, được
ghi trong Kinh điển Pāli. 14 Vinaya - Luật tạng: Quy tắc kỷ luật tu viện. 15 Kutī:
Túp lều, liêu cốc, chỗ ở của chư Tăng. 16 Samsāra: Vòng luân hồi tái sinh
(Nghĩa đen: 'đi lang thang').
17 Nibbidā: yểm ly , chán ghét đối với vòng sinh tử. Đây là
kết quả của tuệ giác sâu sắc và không liên quan gì đến các trạng thái sân hận chán
ghét do bất thiện. 18 Asubha: bất mỹ, Không đẹp (đôi khi được dịch là sự ghê tởm,
hay sự ghê tởm). Quán tưởng về sự bất tịnh, sự ghê tởm và sự ô uế. Quán 32 phần
uế trược của thân.
19 Dāna: Bố thí. Cũng được dùng để chỉ những món cúng dường là
thực phẩm và những vật dụng cần thiết khác được dâng đến Tăng đoàn. 20 Kamma: nghiệp,
Hành động, hay hoạt động được tạo ra bởi tác ý 21 Ānāpānasati: Chánh niệm về
hơi thở (thiền hơi thở).
Mười hai bước đầu tiên của thiền hơi thở - ānāpānasati
Bước 1 – Trải nghiệm hơi thở dài
Bước 2 – Trải nghiệm
hơi thở ngắn
Bước 3 – Trải nghiệm toàn bộ hơi thở
Bước 4 – Làm dịu hơi thở
Bước 5 – Khơi dậy niềm vui (hỷ)
Bước 6 – Khơi dậy hạnh phúc (lạc)
Bước 7 – Trải nghiệm hơi thở như một đối tượng/đề mục của
tâm
Bước 8 – Ổn định hỷ lạc, niềm vui và hạnh phúc
Bước 9 – Trải nghiệm tâm
Bước 10 – Tỏa sáng ấn tướng thiền nimitta
Bước 11 – Duy trì ấn tướng thiền nimitta
Bước 12 – Giải phóng tâm
22 Nimitta: ấn tướng thiền, một dấu hiệu, đặc tính. 23
Vitakka: Tầm, 1 chi phần của sơ thiền. Sự chuyển động không lời của tâm hướng tới
hỷ, hạnh phúc (pītisukha). Vicāra: Tứ, tâm nắm giữ niềm an lạc không lời. 24
Pītisukha: hỷ và lạc phát sinh từ sự buông bỏ là 2 chi phần của hai bậc thiền đầu
tiên. 25 Nibbāna: Nghĩa đen; “Sự diệt tận” (như khi ngọn lửa tắt). Mục tiêu tối
thượng của người Phật tử – đó là tiêu diệt tham, sân, si – nhờ đó chấm dứt mọi
đau khổ là Nibbana. 26 Ariya: Bậc Thánh, vị đã đạt đến một trong bốn giai đoạn
giác ngộ. 27 Dhammānussati: niệm Ân Đức Pháp. 28 Satipahāna: Niệm xứ, là trọng
tâm của chánh niệm. Có bốn niệm xứ : thân, thọ, tâm và pháp.
P. 19
Comments
Post a Comment