VIPALLĀSAS – Các Pháp Điên Đảo

Sự bóp méo quan điểm, nhận thức và suy nghĩ làm cho vô minh thêm dài lâu. Bài nói chuyện của Thầy Ajahn Brahmavamso tại Tu viện Bodhinyana vào ngày 10 tháng 1 năm 2001

(Các pháp điên đảo vipallāsas được khắc phục nhờ những lời dạy của các Bậc Thánh và tác ý có trí (như lý tác ý) yonisomanasikāra dựa trên định) (AII, 52)

Một vị sư yêu cầu tối nay tôi nói chuyện về các pháp điên đảo vipallāsas. Vì không có ý tưởng nào hay hơn nên tôi quyết định sẽ nói về chúng.

Vipallāsas các pháp điên đảo là sự bóp méo quan điểm, nhận thức (tưởng) và suy nghĩ do ảnh hưởng bởi phiền não hoặc lời nói của người khác. Vì vậy, những suy nghĩ, nhận thức và đặc biệt là quan điểm của tôi về những gì tôi nên nói tối nay là một ví dụ về cách thức hoạt động của các pháp điên đảo vipallāsa này, bởi vì một tu sĩ đã ảnh hưởng đến chúng.

Vipallāsas, các pháp điên đảo, sự biến dạng hay bóp méo các quan điểm được tích lũy, nhận thức và sự hình thành tư tưởng, hoặc theo sự giải thích rất chi tiết của Đức Phật về một năng lực mà trong tiếng Pāli chúng ta gọi là avijjā , là vô minh, ảo tưởng hoặc ảo ảnh. Những ai trong số các bạn đã từng nghe tôi nói trước đây đều biết rằng tôi thích dịch vô minh, ảo tưởng là ‘một cái có thật mà người ta đang trải nghiệm’ nhưng người ta gán cho nó một ý nghĩa, một phẩm chất mà nó không có. Nó được gọi là avijjā, ảo tưởng. Chính vì vô minh như vậy mà con người đi khắp nơi khao khát hạnh phúc ở những thứ chỉ tạo ra đau khổ cho họ. Họ tìm kiếm sự an toàn trong những thứ hay thay đổi và tan rã. Họ có một trải nghiệm, một cảm giác hay một ý tưởng về cái tôi khi thực sự chẳng có gì ở đó cả.Tất cả những gì thật sự chỉ là một ảo ảnh trống rỗng, và trên đỉnh của ảo ảnh đó, chúng ta xây dựng toàn bộ ý tưởng về cái ‘tôi’, ‘của tôi’ và từ đó, hết lần này đến lần khác chúng ta tạo ra thế giới luân hồi. Chúng ta tạo ra thế giới của già, bệnh, chết và tái sinh.

P.1

Đức Phật đã nhận ra rằng vô minh avijjā là nguyên nhân của toàn bộ vòng đau khổ được gọi là luân hồi samsāra này. Cho dù đó là ba phiền não gốc (tham sân si) được gọi là nhân của phiền não mūlakilesa hay ở phần đầu của ‘Lý duyên khởi’ hay là ‘Tứ diệu đế’, thì avijjā, vô minh này là gốc, là nguyên nhân chính. ‘Tứ Diệu Đế’ giải thích nguyên nhân của đau khổ là tham ái. Bản thân tham ái có nguyên nhân là avijjā, vô minh. Chính nhờ việc vượt qua vô minh và nhìn mọi thứ theo một cách khác mà chúng ta được giác ngộ.

Khi lần đầu tiên chúng ta nhìn sự vật theo cách đúng đắn như Đức Phật, các vị A-la-hán và các bậc Thánh Ariya nhìn sự vật, thì chúng ta trở thành ‘Bậc Thánh Nhập Lưu’ và đó là vết nứt đầu tiên trên bức màn vô minh. Chúng ta có một cái nhìn thoáng qua nhưng rõ ràng về sự thật của mọi sự. Bằng cách trau dồi tuệ giác và các nhân của tuệ giác đó, chúng ta ngày càng mở rộng vết nứt đó cho đến khi khả năng nhận thức của chúng ta chỉ nhìn mọi thứ theo Pháp, 'không phải tôi', 'không phải của tôi', 'không phải bản ngã'. Không có gì thuộc về tôi và không có gì thực sự đáng để bám vào. Thấy được điều đó là đắc quả A-la-hán. Khi trở thành vị A-la-hán, vị ấy biết rằng nguyên nhân của vòng luân hồi đã hoàn toàn được khắc phục và đây sẽ là kiếp sống cuối cùng của vị ấy.

Vì vậy, việc nhổ bỏ tận gốc vô minh, nhìn xuyên qua ảo tưởng là kinh nghiệm cốt lõi trên con đường Đạo của Đức Phật. Khi Đức Phật ngồi dưới gốc cây bồ đề, ngài gọi kinh nghiệm của mình là giác ngộ bởi vì đó là sự ‘phá vỡ ’ vô minh, phá tan ảo tưởng để thấy được sự thật. Đức Phật cũng nói rằng sự thật mà Ngài nhìn thấy rất khó nhận ra. Vượt qua được vô minh ảo tưởng không phải là điều đơn giản.

Đức Phật đã giải thích trong lời dạy của Ngài về các pháp điên đảo vipallāsa, về cách thức hoạt động của sự suy đồi các căn và tại sao lại có vô minh trên thế giới và trong chính mình. Người ta đang mổ xẻ ảo tưởng, mổ xẻ vô minh và hiểu chính xác nó là gì, hiểu vô minh thực sự là gì, nguyên nhân của nó là gì, và tại sao con người chưa giác ngộ. Người ta phải làm gì để đạt được những hiểu biết sâu sắc, trí tuệ thực sự đó? Hiểu được các pháp điên đảo vipallāsas cho ta một phương hướng hoặc một cách để tập trung nỗ lực và năng lượng của mình nhằm đạt được những trải nghiệm giống như kinh nghiệm của Đức Phật. Đức Phật mô tả các pháp điên đảo vipallāsas từ ba cấp độ nhận thức – quan điểm, nhận thức (tưởng) và suy nghĩ . Những cấp độ nhận thức đó không nên coi là cái này cao hơn cái kia, mà chúng quay thành vòng tròn, chúng hỗ trợ lẫn nhau.

P.2

Suy nghĩ tạo nên quan điểm của chúng ta và chúng ta có kiểu nhận thức riêng phù hợp với những suy nghĩ và quan điểm. Ba yếu tố này xoay quanh nhau. Chúng ta suy nghĩ theo một cách nhất định phù hợp với quan điểm và nhận thức. Có rất nhiều ví dụ trong tâm lý học hiện đại, trong cuộc sống của bạn và trong thế giới tâm trí, sẽ cho bạn thấy sự thật về những điều này. Tại sao chúng ta có quan điểm như vầy mà 0 như thế khác? Tại sao chúng ta lại nhận thức và suy nghĩ theo cách chúng ta đang có? Căn bản của ba điều này là cái thấy. Thế giới quan, sự hiểu biết về triết học và tôn giáo của một người – những quan điểm này là do nhận thức của chúng ta đã chọn lọc và đưa vào trong ý thức của chúng ta những gì phù hợp.

Những Vị Bác Sỹ Điều Khiển Tâm Trí

Người ta thường nói rằng chúng ta nhìn sự vật đúng như thật, nhưng cụm từ “nhìn sự vật đúng như thật” thì đầy nguy hiểm vì chúng ta không nhìn sự vật đúng như thật. Chỉ có các vị A-la-hán mới nhìn thấy sự vật đúng như thực chất của chúng. Những gì mọi người nhìn thấy chỉ là cách họ muốn nhìn theo hướng đó. Chúng ta nhìn theo quan điểm của mình và những quan điểm đó mạnh mẽ đến mức chúng thậm chí còn lọc bỏ sự thay đổi và làm sai lệch những nhận thức lần đầu tiên xuất hiện trong ý thức của chúng ta. Khi Krishna Murti nói về ‘nhận thức không lựa chọn’ thì nhận thức đó đã bị bẻ cong và biến dạng bởi cái mà ông muốn thấy (tức là muốn thấy thế nào thì nhìn ra thế ấy, khác ý thì loại bỏ). Krishna Murti không có khái niệm gì về các pháp điên đảo vipallāsas và do đó thực sự đã hiểu sai vấn đề. Chỉ chú ý thuần túy, chỉ nhận thức thuần túy thôi thì không đủ. Các phiền não đã hoạt động và đó chính là vấn đề. Chúng ta không thể tin tưởng ngay cả trải nghiệm đầu tiên xuất hiện nơi giác quan của mình.

Ngay cả những gì tôi đang nói bây giờ – bạn đã sàng lọc nó rồi. Những gì lọt vào tai bạn và cách bạn hiểu đã bị hệ thống quan điểm của bạn bẻ cong. Đó là lý do tại sao Đức Phật thuyết một bài pháp hay và có nhiều người nghe giác ngộ, trong khi ngày nay chúng ta có thể đọc chính bài thuyết pháp đó và không ai giác ngộ. Chúng là những từ giống nhau nhưng những thầy Tỳ Kheo đang lắng nghe lúc đó có một 'hệ thống quan điểm' không lược bỏ và 0 bẻ cong những gì đang được nói. Đó chính là vấn đề và khi bạn nhận ra sự bẻ cong và biến dạng nhận thức đó xảo quyệt đến mức nào, bạn sẽ có kết luận rằng không biết nhận thức nào là đáng tin hay 0 đáng tin. Bạn không biết đâu là sự thật và đâu 0 phải là sự thật, bởi vì bạn không thể thấy được việc làm của phiền não.

P.3

Phiền não giống như ông bác sĩ điều khiển tâm trí. Chúng lấy sự thật và xoa bóp nó, lược bỏ nó. Chúng ngăn bạn nhận thức những điều bạn không muốn biết và chúng trình bày mọi thứ theo cách bạn muốn. Khi các bác sĩ điều khiển hành động trong sự im lặng nơi những góc khuất của tâm, những gì bạn thực sự nhìn thấy, những gì bạn nhận thức được, đã khác xa với sự thật của vấn đề. Bạn có thường xuyên bất đồng với mọi người về những gì cả hai đã nhìn thấy không? Bạn có thường xuyên có những bất đồng về đâu là sự thật hoặc đâu là thực tế đã xảy ra? Và thực ra tất cả những gì các bạn đang làm là thừa nhận rằng có 'hệ quan điểm' khác nhau. Nhận thức của chúng ta về cùng một sự kiện, một sự thật, là rất khác nhau.

Về cơ bản, điều này cho thấy rằng bạn không thể tin tưởng vào nhận thức (tưởng) của mình. Bất cứ điều gì bạn nhìn, nghe, ngửi, nếm hay chạm nơi thân, bất cứ điều gì bạn cảm nhận bằng tâm, tất cả những nhận thức đó đều đã bị bẻ cong và bóp méo. Bạn không thể tin tưởng bất cứ điều gì trong số đó. Thành thật mà nói, một số nhận thức mà chúng ta cho là tốt đẹp thực ra không hề tốt đẹp. Điều gì là tốt đẹp? Có bao nhiêu người trong số các bạn đã thực sự nhìn thấy thứ gì đó mà bạn cho là đẹp và sau đó bạn lại tự hỏi nó có gì đẹp? Có bao nhiêu người trong số các bạn đã nghe một thứ gì đó rất thú vị, chẳng hạn như một bản nhạc rất hay, sau đó nghe lại và nghĩ nó có gì hay? Có bao nhiêu bạn đã thay đổi sở thích ăn uống của mình? Những mùi vị mà bạn từng nghĩ là tệ hại, bây giờ lại có mùi vị tuyệt vời. Thật ngạc nhiên về những chế độ ăn khác nhau mà tôi đã áp dụng trong cuộc đời tu sĩ của mình.

Tôi lớn lên là một người ăn thịt và chỉ thích đồ ăn Anh thông dụng, sau đó tôi chuyển sang ăn chay và không thể chịu được mùi vị của thịt. Tôi đến Thái Lan và phải ăn những thứ rất khó ăn. Bây giờ tôi đang ở Úc nhưng tôi không thể tin vào khẩu vị của mình về cái gì ngon và cái gì không ngon nữa. Khi bạn no thì những món ăn ngon nhất cũng không còn ngon nữa. Khi bạn ốm đồ ăn ngon chẳng có mùi vị gì nhưng khi bạn đói thì món ăn kinh tởm nhất cũng trở nên thơm ngon. Đây chỉ là một ví dụ về việc nhận thức đơn thuần về cái gì ngon và không ngon có thể bị ảnh hưởng bởi rất nhiều yếu tố khác nhau.

P.4

Bạn cũng không thể tin tưởng vào cảm giác của cơ thể. Cái gì dễ chịu và cái gì không dễ chịu? Tôi nghĩ tất cả các bạn đều biết về một nhóm người được gọi là những kẻ khổ dâm. Tôi nghĩ chính Đại đức Amaro đã nói với tôi rằng có một số nơi ở Hoa Kỳ người ta tự đặt danh hiệu cho mình khi có niềm vui tuyệt đối về việc đó. Thật kỳ quặc. Tại sao điều đó lại được coi là hay ho vui vẻ? Thật đau đớn! Lý do là họ có nhận thức kỳ quặc. Ngay cả những trải nghiệm tuyệt vời nhất, xin thứ lỗi cho tôi vì sự thô thiển, nhưng ngay cả những thứ như quan hệ tình dục – có thực sự vui vẻ hay không? Mọi người thấy vui là do nó đã được PR (tuyên truyền cổ vũ). Nếu bạn nghĩ nó vui thì nó sẽ vui.

Tôi nhớ có lần khi tôi còn là một cậu bé khoảng mười bảy, mười tám tuổi, một người bạn của tôi thử dùng ma túy (lúc đó là vào những năm 1960), và có người nói rằng nếu bạn cho vỏ chuối vào một chất lỏng nào đó trong vài ngày. nó biến thành chất gây nghiện LSD. Vì thế anh ấy đã thử làm điều đó. Anh ấy nói: “Chà, điều này thật tuyệt vời!” Anh thực sự cảm thấy phiêu. Sau đó, người ta phát hiện ra rằng điều đó 0 thực nhưng vì anh ta muốn nó xảy ra nên cảm giác đó đã xảy ra với anh ấy. Bạn không thể tin tưởng vào nhận thức. Nếu bạn nghĩ điều đó sẽ xảy ra thì nó sẽ xảy ra.

Bạn đã nghe tôi kể nhiều câu chuyện. Một câu chuyện kể về một tù nhân cách đây một trăm năm, bị kết án tử hình bằng cách treo cổ. Họ đến phòng giam của anh ta vào đêm trước khi anh ta bị treo cổ và nói, "Anh sẽ không bị treo cổ, mà anh sẽ bị cắt cổ". Họ để anh suy nghĩ về điều đó suốt đêm và đến sáng họ bịt mắt anh, trói hai tay anh ra sau lưng và đưa anh đến khu hành quyết. Ở đó, họ dùng cái sống của con dao cạo cứa nhẹ ngang cổ họng anh ta, đồng thời một trong những nhà tâm lý học đã sắp xếp thí nghiệm rùng rợn này đã bật vòi nước. Bởi vì người đàn ông tội nghiệp này tin rằng mình sắp chết theo cách đó và đã suy nghĩ về điều đó suốt đêm, nên ý nghĩ đó đã tạo ra cảm giác rằng anh ta sắp chết. Vì vậy, khi anh cảm thấy lưỡi dao cạo lạnh buốt xuyên qua cổ họng mình và nghe thấy âm thanh của chất lỏng, anh nghĩ mình đã bị cắt cổ. Nhận thức đó khởi lên, ý nghĩ đó khởi lên và anh ta chết thật. Anh ta ngã xuống đất và chết vì suy nghĩ đó. Đúng là như vậy. Điều đó cho thấy nhận thức và suy nghĩ mạnh mẽ như thế nào. Chúng hoàn toàn lừa dối bạn.

P.5

Cái gì dễ chịu và cái gì không dễ chịu? Đức Phật dạy rằng điều bậc Thánh nói là lạc thú, thế gian nói là khổ đau. Điều mà các bậc Thánh nói là khổ thì người thường lại nói là lạc thú. Các bậc Thánh nói rằng người ta bị các phiền não chi phối khi tham gia vào các hoạt động như quan hệ tình dục, xem TV, kiếm sống, sinh con, có được nhiều của cải và chạy theo các chấp trước của mình. Đó không phải là tự do. Đó là sự đau khổ. Bậc Thánh nói rằng hạnh phúc là thoát khỏi sức mạnh của phiền não, thoát khỏi của cải, tham lam và dục vọng. Nhưng tất nhiên vì thế giới không nhìn sự việc theo cách đó nên con người không nhìn nhận sự việc theo cách đó. Đó là sự khác biệt giữa thế giới của phàm nhân puthujjanas và thế giới của các bậc Thánh. Quan điểm của người thế tục là niềm vui được trải nghiệm nơi thân như nghe bản nhạc hay, xem một bộ phim hay, có các mối quan hệ hoặc đạt được sự giàu có và địa vị. Người có quan điểm đó sẽ thấy quan điểm của mình là đúng. Khi họ đạt được những thú vui, của cải tài sản đó, do quan điểm mà nhận thức sẽ bị bẻ cong cho phù hợp với quan điểm đó và họ sẽ thích thú với những thứ đó. Họ cảm thấy vui, họ nghĩ rằng họ thật tuyệt vời và thành công biết bao, họ khá hơn biết bao so với những kẻ ngu ngốc đầu hói ở tu viện, những người đang từ bỏ rất nhiều - để làm gì?

Vấn đề của thế giới là về chu trình của nhận thức. Tôi chắc rằng bây giờ bạn có thể hiểu rằng do nhận thức của mình mà bạn suy nghĩ theo cách bạn đang có. Nhận thức giống như những viên gạch và ngôi nhà được làm bằng những viên gạch đó. Đây thực sự là cách mà tòa lâu đài nhận thức ra đời.  Từ tư tưởng sinh ra quan điểm và tự biện minh, tiếp tục vô minh ảo tưởng về cuộc sống. Đặc biệt Đức Phật đã nói rằng có bốn vấn đề chính với những pháp điên đảo vipallāsa này, cho rằng vô thường là thường, đau khổ là hạnh phúc, vô ngã thành ngã, có ‘cái tôi’, ‘tôi’ và ‘của tôi’, những điều ghê tởm bất tịnh cho là đẹp đẽ. Chúng ta hiểu sai tất cả!

P.6

Phá vòng điên đảo vô minh

Khi Đức Phật dạy các pháp điên đảo vipallāsas để chỉ cho ta thấy vô minh avijjā, Ngài cũng dạy cách khắc phục chúng, cách thực sự điều chỉnh chúng lại cho đúng. Thật khó để phá vỡ chu kỳ đó. Trước hết, bạn phá vỡ chu kỳ đó bằng cách lắng nghe lời nói của người khác (bậc Thánh), lắng nghe quan điểm khác, nhận thức khác và kiểu suy nghĩ khác. Đây là một trong hai nhân để trở thành Bậc Thánh Nhập Lưu Stream Winner, được gọi là parato ghosa ‘lời của người khác’. Đó phải là lời nói của một bậc Thánh nhân, một người đã tận mắt chứng kiến ​​Pháp. Chúng phải là những lời nói xuất phát từ quan điểm thanh tịnh, quan điểm đúng đắn như thật. Điều bạn nhận từ bên ngoài ấy chính là hạt giống. 1 nguyên nhân khác để trở thành bậc Thánh Nhập Lưu là tác ý có trí (như lý tác ý) yonisomanasikāra, công việc của tâm hướng tới cội nguồn của mọi sự. Điều này chỉ đạt được thông qua việc thực hành thiền jhānas. Tôi nói điều này bởi vì Đức Phật cũng đề cập đến chất nuôi dưỡng, nhiên liệu của các pháp điên đảo vipallāsa, thức ăn của vô minh chính là ‘Năm Chướng ngại’ (5 triền cái - tham lam, sân hận, hôn trầm, hối hận, hoài nghi).

Chính năm chướng ngại này đã giữ cho vòng tà kiến, nhận thức sai lầm và suy nghĩ sai lầm cứ xoay vòng. Buông bỏ năm chướng ngại là cách bạn có thể khám phá ra vô minh. Bạn có thể phá vỡ vòng điên đảo vipallāsa đó bằng cách nghe theo lời dạy của Bậc Thánh, cùng với việc từ bỏ và khắc phục năm chướng ngại bằng thiền định. Tôi đã nói rằng các điên đảo vipallāsa hoạt động khi người ta có cái thấy và rồi  nhận thức theo ý mình muốn. Đó là nơi tham ái, vui thích và sân hận xuất hiện. Những điều này buộc nhận thức phải phù hợp với quan điểm sai lầm của bạn, duy trì những suy nghĩ sai lầm và đáp ứng quan điểm sai lầm của bạn. Tham ái và sân hận là hai chướng ngại đầu tiên và lớn nhất trong năm chướng ngại.

Như có nói trong kinh, cách duy nhất là nhìn sự vật đúng như thật, yathābhūtañā+adassana, là kết quả của định. Chỉ thông qua định, thông qua các tầng thiền (jhāna) bạn mới có thể nhìn thấy sự vật đúng như thật bởi vì công việc của định và thiền là vượt qua năm chướng ngại đó, khi khắc phục tham muốn và sân hận, bồn chồn, lười biếng, buồn ngủ và nghi ngờ. Sau đó, bạn thực sự có thể bắt đầu thực sự nhìn nhận mọi thứ đúng như thật thay vì theo ý bạn muốn.

P.7

Để hiểu được sự thật cần nhiều thứ chứ không chỉ là lòng dũng cảm, hầu hết mọi người chỉ thích nhìn mọi thứ theo ý mình cho thoải mái hơn là nhìn chúng đúng như thật. Đối với hầu hết mọi người, ý tưởng về Tứ Diệu Đế là hoàn toàn không phù hợp. Toàn nói về đau khổ, vô ngã và mục tiêu của sự sống này chỉ là kết thúc tất cả, đi đến sự chấm dứt của tất cả các quá trình cơ thể , tinh thần và ý thức. Đối với hầu hết mọi người, đó là một ý tưởng đáng ghê sợ. Vấn đề ở đây là gì? Người ta thấy 4 Diệu Đế đáng ghê sợ là vì bhava-ta+hā, tham ái (sống)‘được hiện hữu’. Sự tham ái sự sống và sự khao khát khoái lạc nhục dục này bóp méo toàn bộ quá trình nhận thức và bản chất của sự khao khát được tồn tại.

Đây là hai trong ba tham ái làm bẻ cong quan điểm, bẻ cong nhận thức và tư tưởng đến mức chúng ta không thể chấp nhận Giáo Pháp. Chúng ta phải leo lên đến nơi của Giáo Pháp. Chúng ta phải khuất phục những gì chúng ta muốn và không muốn, đồng thời cũng phải khuất phục nỗi sợ hãi khi nhìn thấy mọi thứ đúng như thật. Ham muốn và sợ hãi là hai trong số những trở ngại lớn nhất cho việc đạt được thiền sâu. Chúng là hai trong số những chướng ngại cho việc “buông xả”, bởi vì tham ái xuất phát từ ý thức về “cái tôi” và “của tôi”. Tôi khao khát những gì là trách nhiệm của tôi, tài sản của tôi và thẩm quyền của tôi. Chúng ta cho rằng cơ thể, tâm trí và suy nghĩ là của mình nên chúng ta có thể kiểm soát và bảo vệ chúng. Chúng ta bắt đầu cảm thấy rất bất an khi cảm giác kiểm soát của chúng ta bắt đầu biến mất. Khi thiền sâu, bạn phải 'buông bỏ', nghĩa là buông bỏ sự kiểm soát và ham muốn, đồng thời hiểu rằng những thứ này không phải là tài sản của bạn.

Thân và tâm này không thuộc về bạn. Chúng là một phần của tự nhiên và hoạt động theo quy trình. Bạn phải buông bỏ tham ái, kiểm soát và ham muốn. Đó là điều thiền định huấn luyện bạn. Bạn cũng phải buông bỏ nỗi sợ hãi khi thấy mình không kiểm soát được những điều này. Nỗi sợ hãi rằng nếu tư - cetanā, là người thực hiện, ý chí, hoàn toàn biến mất thì chuyện gì sẽ xảy ra? Ai sẽ ở đó để bảo vệ tôi? Tư - Cetanā đó phải được từ bỏ bởi vì chính người làm, kẻ khao khát đó, đã bẻ cong nhận thức, uốn cong quan điểm và thậm chí uốn cong cả suy nghĩ. Bằng cách điều phục suy nghĩ trong thiền định, bằng cách vượt ra khỏi thế giới nhận thức của suy nghĩ và bằng cách làm cho tâm trí tĩnh lặng, bạn đang cho phép nhận thức có cơ hội trở nên chính xác, nhận thức sự việc đúng như thật.

P.8

Trước đây tôi đã đề cập đến ví dụ về việc giơ một loại đồ vật nào đó lên và hỏi, “Đây là cái gì?” rồi ngày càng đi sâu hơn vào các thuộc tính của nó. Tôi đã đề cập đến ví dụ về việc đi bộ lên đồi đến tu viện này và nhìn thấy nhiều điều hơn là khi bạn lái xe lên đồi, rồi khi bạn dừng bước, bạn thậm chí còn nhìn thấy nhiều hơn nữa. Cách duy nhất để có đủ dữ liệu, đủ nhận thức để có thể nhìn nhận sự vật một cách chân thực là buông bỏ mọi suy nghĩ, mọi mong muốn, mọi tham ái, mọi việc làm và mọi ý chí. Và cũng buông bỏ mọi ác ý, mọi sợ hãi, để bạn không sợ nhìn thấy sự thật. Vì vậy, bạn không có hứng thú với những gì bạn nhìn thấy, và không khao khát được thấy cái này hay cái kia. Bạn hoàn toàn trống rỗng và vẫn còn đủ thời gian để nhìn ra sự thật, đó gọi là thiền định jhāna.

Đi sâu vào tâm sự vật

Samādhi Định là sự chú ý liên tục, không suy nghĩ, tĩnh lặng và trong sáng. Đó là khả năng duy trì sự chú ý của bạn trong thời gian dài mà không bị phân tâm hay quấy rầy bởi sự kích thích của năm giác quan hoặc những đòi hỏi của cơ thể. Định là tĩnh lặng, nhất tâm, thanh tịnh và vô tư, không khao khát, không ham muốn, và năm chướng ngại đã hoàn toàn biến mất. Đó là cách bạn có thể có đủ nhận thức thanh tịnh, các saññā tưởng thanh tịnh để có thể phá vỡ toàn bộ chu kỳ điên đảo vipallāsas này. Trong những thiền định sâu sắc đó, khi có sự tĩnh lặng và tự do khỏi năm chướng ngại, bạn có cơ hội nhìn thấy ‘cái gì’ đang đi đến tận gốc rễ của mọi sự. Yonisomanasikāra tác ý có trí là công việc của tâm đi vào gốc rễ của mọi sự.

Gốc rễ của tất cả những điều này là gì? Đó không phải là thân mà là citta tâm. Bạn sẽ tìm thấy gốc rễ của tất cả những điều này trong tâm. Ở đó bạn sẽ tìm thấy gốc rễ của ảo tưởng, ý chí và ý thức. Bạn phải đi sâu vào bên trong và cùng với ‘lời dạy của bậc Thánh’, khi đó bạn có một khuôn khổ cho nhận thức để phát hiện ra rằng cái mà chúng ta gọi là tâm không phải là an lạc. Cái gọi là tâm này không thường hằng, không đẹp đẽ và không phải là ngã. Đi thẳng vào tâm của sự vật. Nếu trước đây bạn thấy tâm trí là 'của tôi', là ý thức, là tâm nhận biết hay tâm tạo tác, và rồi khi bạn thấy nó là trống rỗng, thì đó là nơi bạn bắt đầu có được những trải nghiệm giác ngộ, 'viên ngọc quý trong tâm hoa sen'. Đó là một cụm từ tiếng Tây Tạng mà tôi thực sự thích vì khi bạn đi sâu, sâu hơn, sâu hơn vào bên trong, bạn đi hết cánh này đến cánh hoa sen khác, cho đến khi bạn đến chính giữa bông sen này, 'viên ngọc quý trong tâm hoa sen' tác ý có trí yonisomanasikāra, cung lòng của tất cả những gì hiện hữu. Đó chính là ý nghĩa của yoni, tử cung, nguồn gốc và bạn đi đến điểm khởi đầu của mọi thứ và bạn nhìn thấy viên ngọc. Viên ngọc đó là gì? Hoàn toàn trống rỗng, không có gì cả.

P.9

Luân hồi này thật là một trò lừa đảo! Lúc nào bạn cũng nghĩ rằng có điều gì đó ở trung tâm này, điều gì đó tuyệt vời và đẹp đẽ, một linh hồn tuyệt vời nào đó hoặc một vị Chúa hay ý thức vũ trụ. Thực ra, sẽ nhẹ nhõm hơn nhiều khi thấy rằng tâm hoa sen hoàn toàn trống rỗng. Trung tâm của tâm chỉ là một tiến trình trống rỗng. Bạn thấy rằng anattā (vô ngã) là cốt lõi của cả ba yếu tố hiện hữu, anicca, dukkha và anattā, vô thường, khổ và vô ngã. Vô ngã là nguyên nhân của tất cả những điều này, và bạn thấy điều này qua thiền và tâm quán chiếu sau một thời thiền có phát triển tuệ giác.

Thấy được vô ngã sẽ không bao giờ quên

Điều này gắn liền với lời của các bậc Thánh nhân nói rằng tâm hoàn toàn trống rỗng cái “ngã”, đó chỉ là một tiến trình trống rỗng. Cái biết, ý thức, chỉ là trống rỗng. Đó chỉ là hiện tượng xuất hiện khi đủ duyên. Việc thấy đó có ảnh hưởng sâu sắc đến quan điểm, nhận thức và tư duy của bạn. Thấy vô ngã rồi sẽ không bao giờ quên. Một khi bạn thấy được sự trống rỗng của tất cả những điều này thì bạn sẽ khá dễ hiểu tại sao tất cả đều là khổ. Lý do duy nhất khiến chúng ta cố gắng bẻ cong nhận thức, suy nghĩ và quan điểm của mình là để tìm kiếm hạnh phúc nào đó. Chúng ta nghĩ rằng có một vài hạnh phúc nào đó bởi vì ảo tưởng về bản thân đòi hỏi hạnh phúc phải “hiện hữu” và nó chỉ có thể được duy trì nếu chúng ta hạnh phúc. ‘Hiện hữu’ có nghĩa là hạnh phúc; bằng không thì chẳng có ý nghĩa gì để hiện hữu. Chúng ta muốn tìm một nơi nào đó, nếu không phải trong cuộc sống này hay trên cõi trời và nếu không phải trong cuộc sống thiên đường nào đó, thì trong ý thức vũ trụ siêu hình nào đó hoặc một cõi tịnh độ nào đó, nơi chúng ta sẽ hạnh phúc mãi mãi về sau. Chúng ta muốn tìm một khía cạnh nhỏ nào đó, một phần nào đó của bản ngã, nơi chúng ta có thể an toàn, hạnh phúc và không gặp vấn đề gì. Nếu bạn có thể thấy rằng không có ngã, bạn có thể chấp nhận và hiểu tại sao Đức Phật nói rằng toàn bộ năm uẩn và toàn bộ luân hồi đều là khổ. Không có phần nào trong luân hồi mà không bị ảnh hưởng, không bị thấm nhuần và bão hòa bởi khổ đau. Không có nơi nào mà ý thức có thể tìm được chỗ đứng mà không có khổ dukkha. Không có trải nghiệm nào thoát được khổ đau, ngoại trừ sự kết thúc trải nghiệm nơi chốn luân hồi này. Đó chính là Nibbāna, sự chấm dứt hoàn toàn, sự tắt lụi, sự kết thúc của mọi thứ. Chỉ khi bạn thấy được vô ngã thì điều đó mới thực sự hữu ích và khi đó bạn mới thấy thế giới này khổ đến mức nào.

P.10

Khi Đức Phật dạy Tứ Diệu Đế, Ngài thực sự có ý đó một cách trọn vẹn. Năm uẩn là khổ, không phải bạn tham ái dính mắc với khổ. Cái bạn dính mắc là năm uẩn. Không có cái gì đó bên ngoài năm uẩn này làm nên sự dính mắc. Toàn bộ quá trình chỉ là năm uẩn. Nếu bạn nhìn tâm đủ rõ ràng, bạn có thể thấy sự ngu xuẩn của con người, ngay cả các tu sĩ cố gắng nghĩ rằng có cái gì đó ở ngoài năm uẩn (tạo ra sự dính mắc). Đức Phật đã nói rất rõ ràng rằng tâm và tất cả các uẩn khác (sắc, thọ, tưởng, hành) đều là khổ. Khi người ta thực sự nhìn thấy điều này và chấp nhận điều này, người ta sẽ hiểu tại sao Đức Phật nói sabbe sakhara dukkha, mọi hành, mọi vật đều là khổ. Các vị A-la-hán, những người giác ngộ sẽ mô tả những trải nghiệm của họ khi là một vị A-la-hán rằng khổ sinh và khổ diệt. Nếu bạn muốn biết cảm giác trở thành một vị A-la-hán như thế nào thì sự mô tả là: khổ và khổ nhiều hơn, khổ sanh và khổ diệt. Đó là sự tổng kết về cuộc đời của một vị A-la-hán. Chỉ có bậc A-la-hán mới biết rằng khổ đau sinh diệt là có hạn (tức kiếp này của vị Arahant là kiếp chót). Giống như chuyện người công nhân chờ nhận lương trong Trưởng Lão Tăng Kệ Therāgathā, vị A-la-hán biết rằng mình vẫn chưa được trả lương. Vào lúc Parinibbana sự đau khổ cuối cùng biến mất và luân hồi chấm dứt.

Vô thường – Tự nhiên sở hữu tất cả

Thật tuyệt vời khi một em bé chào đời phải không? Cháu bé có tất cả những trải nghiệm, tương lai nằm  ở phía trước. Tội nghiệp! Phía trước có biết bao đau khổ. Có tuyệt vời không? Bạn có thể đi du lịch khắp nơi, xem một bộ phim hay hoặc nghe những bản nhạc tuyệt vời, tận hưởng những mối quan hệ tuyệt vời và quan hệ tình dục, và có Trời mới biết bạn có thể làm gì khác nữa trên đời. Ngày nay thật tuyệt vời với công nghệ phải không? Bạn có thể làm được rất nhiều điều. Đó chỉ là sự ngu ngốc. Đó là điều thật đáng chán ghét. Cái gì đưa đến khổ đau thì chúng ta cho là đẹp đẽ và cái gì là vô thường, như ý chí, tâm thức và ngũ uẩn, chúng ta nghĩ là thường hằng, sẽ ở đó với chúng ta mãi mãi. Tất cả đều đang trôi đi, tất cả đang tàn phai và mọi thứ mà chúng ta nghĩ mình sở hữu sẽ sớm biến mất. Chúng ta quên mất sự vô thường.

Hãy hiểu rằng tất cả tiền bạc, nhà cửa, quần áo, xe hơi của bạn, tất cả đều vô thường. Nó đang tàn phai. Ngay cả bây giờ tu viện của chúng ta cũng đang bị thời gian hủy hoại và cơ thể của chúng ta đang bị hủy hoại khi chúng ta đang nói chuyện ở đây. Nếu chúng ta thực sự sở hữu tất cả những thứ này, chúng ta sẽ có thể ngăn chặn sự suy tàn của chúng. Vậy mà bạn không thể dừng sự tiêu hoại. Cơ thể này, tài khoản ngân hàng của bạn, nhà cửa, quần áo của bạn, mọi thứ bạn nghĩ là của bạn đều thuộc về (quy luật) tự nhiên. Nó không thuộc về bạn. Đó là những gì vô thường nói với bạn. Bạn sử dụng những thứ này giống như một người đang thuê nhà. Bạn đừng bao giờ nên nghĩ rằng chúng là của bạn. Khi chủ nhà muốn lấy lại ngôi nhà thì bạn phải trả lại. Bạn không có của cải chút nào, bạn không làm chủ thân này. Tất cả điều này chỉ là ảo tưởng thông qua các điên đảo mộng tưởng vipallāsas.

P.11

Một khi bạn đã có tất cả những thứ này, bạn sẽ rất lo lắng về việc bị mất chúng, đặc biệt là thân của bạn. Khi bạn bắt đầu bị bệnh và ai đó nói rằng bạn phải từ bỏ cơ thể của mình. Bạn nói, "Không đời nào! Tôi muốn sống. Chết ở tuổi bảy mươi hay tám mươi thì quá trẻ. Tôi vẫn còn quá trẻ để chết. Người bên cạnh nhà tôi đã tám mươi lăm tuổi. Tôi không thể già bằng họ được sao?” Bạn chưa sẵn sàng từ bỏ vì đó là tà kiến, quan điểm sai lầm, nhận thức sai lầm và suy nghĩ sai lầm. Anicca vô thường có nghĩa là không có chủ nhân mà đúng hơn là (quy luật) tự nhiên sở hữu tất cả những thứ này, đó là điều mà vô thường nói với bạn. Sẽ không tuyệt vời sao nếu khái niệm của bạn có chánh kiến đến mức độ này?  Điều đó có nghĩa là bạn sẽ không còn lo lắng về tài sản của mình nữa. Người xưa có câu nói: ‘Bạn không sở hữu tài sản của mình; tài sản của bạn sở hữu bạn '. Có phải vậy không? Tài sản mang lại cho bạn gánh nặng gì? Tài sản yêu cầu bạn chăm sóc nó. Nó đòi hỏi bạn phải chú ý và dành nhiều thời gian cho nó.

Bạn càng có ít thì càng ít tốn thời gian chăm sóc cho của cải tài sản của bạn. Nếu có thể, hãy tưởng tượng bạn chẳng có gì cả. Ngay cả các vị sư, những người chỉ mang theo y bát, chúng cũng không thuộc về các thầy. Hãy coi chúng là của Phật chứ không phải của tự nhiên. Y bát của bạn là của Đức Phật, vậy hãy chăm sóc chúng; bạn chỉ đang mượn chúng từ Đức Phật. Chúng hoàn toàn không phải của bạn! Cho nên khi các thầy mặc y của Đức Phật, hãy mặc đẹp sao cho Đức Phật tự hào và khi dùng bình bát của Phật để đi khất thực để ăn, hãy nhớ rằng cái bát đó đến từ Đức Phật, đó là bát của Đức Phật. Vì vậy, hãy làm điều đó một cách tốt đẹp với lòng tôn kính và lòng biết ơn, biết được sự thiêng liêng của y bình. Thân của bạn chỉ ở đây để được sử dụng cho việc hoàn thành đời sống phạm hạnh mà thôi. Đừng chú ý đến nó quá nhiều; đó không phải là cơ thể của bạn. Các thầy đã có rất nhiều thân (trong nhiều kiếp) rồi và bây giờ quý vị có một thân khác, thân tốt, thân xấu, thân tầm thường, thân nam, thân nữ, thân Á Đông và thân Tây phương, có rất nhiều thân. Cái này không phải của bạn, nó thuộc về tự nhiên.

P.12

Khi những thứ này được nhìn thấy đúng như bản chất của chúng và anicca vô thường đang dạy bạn rằng chúng không thuộc về bạn, tại sao bạn lại quan tâm đến chúng đến thế? Có một ví dụ rất hay trong kinh (MN 22.41). Đức Phật hỏi các thầy Tỷ-kheo:

“Nếu người ta lấy đi cỏ, cọng, cành và lá trong Rừng Jeta này, hoặc đốt chúng, hoặc làm những gì họ thích với chúng, các ông có nghĩ rằng: 'Người ta đang mang chúng tôi đi hoặc đốt chúng tôi hoặc làm những gì họ thích với chúng tôi'?"

“Không, thưa Thế Tôn.

"Tại sao không?"

“Bởi vì đó không phải là chúng con, cũng không phải là cái gì của chúng con.”

“Cũng vậy, này các Tỳ kheo, cái gì không phải của các ông, hãy từ bỏ nó; khi các ông từ bỏ nó, điều đó sẽ dẫn các ông đến sự an lạc và hạnh phúc lâu dài. Nếu năm uẩn bị đốt cháy, tiêu hủy, vứt bỏ, các ông có quan tâm không?”

“Không, thưa Thế Tôn.

"Tại sao không?"

“Bởi vì đó không phải là tự ngã của chúng con, cũng không thuộc về chúng con.”

Các uẩn thuộc về tự nhiên. Thân này, các tưởng, suy nghĩ, cảm thọ, vui sướng và đau đớn này không thuộc về bạn, vậy tại sao bạn lại quan tâm đến hạnh phúc và đau khổ, đến đau đớn và vui sướng, đến đồ ăn ngon, đồ ăn thiu hay âm thanh hay? Ai đó nói điều gì đó tốt đẹp với bạn và bạn thực sự phấn khích. Ai đó nói điều gì đó hèn hạ với bạn và bạn cảm thấy khó chịu. Chúng chỉ là lời nói. Chúng chỉ là âm thanh, có vậy thôi, những ý nghĩ trong tâm, những ý nghĩ tốt đẹp, những ý nghĩ xấu xa, chúng chỉ là những ý nghĩ thôi. Chúng không thuộc về bạn. Bất cứ điều gì nảy sinh trong tâm trí, bất kỳ tâm trạng, cảm xúc, ý tưởng hay suy nghĩ nào, đều không phải của bạn. Vì vậy, bạn sẽ không suy nghĩ hay lo lắng nhiều và sẽ không bị buồn bực trầm cảm nhiều. Bạn biết rằng tôi không thực sự quan tâm đến những gì bạn nghĩ. Tôi thậm chí còn không quan tâm tôi nghĩ gì, vậy tại sao tôi phải quan tâm bạn nghĩ gì?

Vì vậy, bằng cách này, bạn có thể buông bỏ mọi thứ, bạn có thể tự do thoát khỏi mọi thứ, cuối cùng bạn có thể bình yên khi biết rằng bạn không sở hữu gì cả. Ở đây cũng không có ai là chủ sở hữu để sở hữu bất cứ thứ gì. Quầy hàng không có ai, cũng không có khách hàng, làm sao có thể có tương tác? Khi bạn thấy rằng tất cả việc mua bán này, những giao dịch này trong cuộc sống, những sự đến và đi này, đều chấm dứt, thì cuối cùng sẽ có tự do và bình yên. Đây là cách các điên đảo vipallāsas được điều chỉnh lại cho đúng thông qua lời dạy của Bậc Thánh và bằng cách nhìn thấu chúng và đi đến nguồn gốc của sự vật, đến các tầng thiền (jhāna), tâm, vào yoni, cung lòng của tất cả những điều này.

P.13

Ở đó bạn sẽ thực sự thấy anicca, dukkha, anattā và cả asubha vô thường, khổ, vô ngã và cả bất tịnh. Mọi thứ, toàn bộ công việc đều vô thường, nó không thuộc về ai cả, nó chỉ thuộc về tự nhiên. Khi bạn có thể nói: “Cuối cùng tôi đã từ bỏ tất cả tài sản của mình”, thì bạn thực sự là một người vô gia cư, một hành giả anagārika, một người đã xuất gia từ bỏ của cải và không sở hữu ngôi nhà, tài khoản ngân hàng, y bát hoặc liêu cốc kuti. Người ta thậm chí không sở hữu được thân xác hay suy nghĩ của mình. Chúng ta nói về sự từ bỏ và chúng ta thậm chí không làm chủ tâm trí của chính mình. Chỉ cần vứt bỏ tất cả và không có tài sản gì cả. Tất cả những ý nghĩ, những trải nghiệm, những tầng thiền cao, những thiền bị hoại, không cái nào trong số chúng là ‘của tôi’, chỉ là (quy luật) tự nhiên đang làm công việc của nó. Không có ai ở đây sở hữu bất cứ thứ gì, trải nghiệm bất cứ thứ gì, làm bất cứ thứ gì.

Về tất cả các bài nói chuyện tuyệt vời, tôi không có bài nói chuyện hay nào, tôi cũng sẽ không bao giờ có bài nói chuyện nào và tôi chưa có những buổi thiền định tuyệt vời nào vì không có ai ở đây để làm bất cứ điều gì. Không có gì trong số này thuộc về tôi. Bằng cách nhìn thấy vô ngã anattā đó, ngay khi bạn cố gắng sở hữu mọi thứ, làm mọi thứ; muốn mọi thứ; tạo tác mọi thứ; thì bạn chỉ đang tạo ra đau khổ trên  đời này. Bạn đã gặp quá nhiều đau khổ trong cuộc hành trình trong luân hồi. Tạo ra đau khổ vậy là đủ rồi, mọi điều mà tôi cho là đáng giá, hạnh phúc và hữu ích chỉ là hoàn toàn lãng phí thời gian, chỉ thêm đau khổ trên đời. Tại sao chúng ta luôn tiếp tục tạo tác ra tất cả những điều này?

Cái nhìn đúng đắn (Chánh Kiến) cuối cùng

Đức Phật nói: “Kẻ xây nhà, ngươi đã bị nhận diện. Tất cả xà nhà của ngươi đã bị dỡ bỏ. Ngươi sẽ không thể xây dựng thêm trong luân hồi nữa”. Đức Phật muốn nói rằng một khi bạn đã có chánh kiến ​​cuối cùng này dẫn đến Đạo Quả, bạn sẽ nhìn mọi thứ theo cách Đức Phật và các vị Arahant đã nhìn chúng. Có một thứ gọi là chánh kiến. Đó là ‘Tứ Diệu Đế’, nhìn thấy vô thường, bất toại nguyện, thực sự khổ, vô ngã và tánh Không. Ngay khi bạn nhìn thấy điều này, nhận thức của bạn bắt đầu thay đổi. Điều mà trước đây bạn nghĩ là một nhận thức đẹp đẽ, bạn nhận ra đó chỉ là một nhận thức mà tất cả những cảnh đẹp mà bạn từng thích ngắm nhìn, chẳng hạn như cảnh hoàng hôn – ai nói chúng đẹp?  Tất cả chỉ là nhận thức mà bạn được bảo rằng đó là đẹp. Chánh kiến ​​thấy rằng đó chỉ là sự tiếp nhận của mắt. Sẽ tốt hơn nhiều nếu bạn nhắm mắt lại, không tiếp xúc bằng mắt nữa và nhập vào thiền jhāna.

P.14

Tất cả những bản nhạc hay mà tôi đã nghe trong đời, từ việc đi đến khán phòng Albert Hall đến gặp những nhạc sĩ vĩ đại, tất cả những điều đó hoàn toàn lãng phí thời gian. Thế giới vẫn tôn vinh âm thanh và bạn phải trả rất nhiều tiền để đến xem một số nhạc sĩ được gọi là vĩ đại này. Họ là những kẻ ngu ngốc, lừa dối người khác làm họ vui trong thế giới cảm giác. Không có âm thanh nào đẹp bằng sự im lặng, sự im lặng sâu sắc của các tầng thiền. Không có vị, không có mùi trong thiền jhāna. Không có cảm giác thể chất nào tuyệt vời bằng sự khinh an của thân, kāya passaddhi, nơi cơ thể biến mất. Và trong tất cả những thú vui thể xác mà tôi đã trải qua trong đời, thì kāya passaddhi khinh an nơi thân, khi năm giác quan, đặc biệt là xúc giác vật lý, hoàn toàn biến mất, đó là điều tuyệt vời nhất. Đó là lúc tôi có thể hoàn toàn thư giãn và không bị kích ứng bởi thân nhạy cảm này. Thấy được niềm vui và nỗi đau, nóng, lạnh và tất cả những thứ đó, bạn sẽ có được chánh kiến ​​và nhận thức đúng đắn.

Bạn có được những suy nghĩ đúng đắn, những suy nghĩ phù hợp với chánh pháp, cách suy nghĩ của Đức Phật, suy nghĩ chấm dứt luân hồi, chấm dứt năm uẩn và giúp càng nhiều người được như bạn càng tốt trong thời gian bạn còn lại. Vì thế đây chính là điều mà các điên đảo mộng tưởng vipallāsa hướng tới. Đây là bản chất của vô minh và cách khắc phục nó. Đây là cách ảo tưởng biểu hiện và cách khắc phục ảo tưởng. Đây là cách mà Tứ Diệu Đế và Tam Pháp Ấn (Vô Thường, Khổ, Vô Ngã) phối hợp với nhau và tất cả đều dựa trên Bát Thánh Đạo, con đường giải thoát mà đỉnh cao là các tầng thiền.

As Māha Mogalāna said to Visāka, “Through the words of another and the work of the mind which goes to the source, through hearing the Dhamma from Ariyans, and through getting into jhānas, you have the opportunity to break the whole cycle through Stream Winning and the inevitable unravelling of the vipallāsas”. So may your vipallāsas be unravelling even now and may samsāra be ending for you. May you be deluded no more in the ways of the world? May you find true freedom and true peace through true cessation? So that’s the end of this evenings talk on the vipallāsas.

Như ngài Māha Mogalāna đã nói với ngài Visāka, “Qua lời dạy của bậc Thánhvà hành động của tâm hướng về cội nguồn, nhờ nghe Pháp từ các bậc Thánh, và nhờ nhập vào các tầng thiền jhāna, bạn có cơ hội phá vỡ toàn bộ luân hồi thông qua việc Đạt được Quả Nhập Lưu và sự tháo gỡ các điên đảo mộng tưởng vipallāsas”. Vì vậy cầu mong những điên đảo mộng tưởng vipallāsas của bạn sẽ được sáng tỏ ngay cả bây giờ và cầu mong luân hồi sẽ kết thúc đối với bạn. Mong bạn không còn bị vô minh mê hoặc trong đường lối của thế gian nữa. Mong rằng bạn có thể tìm thấy tự do thực sự và an bình thực sự thông qua sự diệt tận thực sự. Vậy là buổi nói chuyện tối nay về điên đảo mộng tưởng vipallāsas đã kết thúc.

Comments

Popular posts from this blog